DI TÍCH

BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA QUÝ HỢI NIÊN HIỆU CHÍNH HÒA 4 (1683)

          Sau khi đỗ đại khoa, các vị Tiến sĩ được triều đình ban cho nhiều ân điển: “loa truyền xướng danh, treo bảng đề tên ở nhà Quốc học, được ban áo xanh đai mũ, yến Quỳnh hoa bạc”..., được khắc tên trên bia đá đặt nơi cửa hiền. Tấm bia đề danh Tiến sĩ khoa Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa 4 (1683) là một trong 82 bia Tiến sĩ được lưu giữ tại di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám, trên đó lưu danh 18 vị Tiến sĩ – những bậc hiền tài đã đóng góp cho sự phát triển của Đại Việt.

Bia Tiến sĩ khoa thi Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa 4 (1683) 

          Bia có kích thước lớn, chiều cao 178 cm, chiều rộng 122 cm, dày 23 cm. Trán bia trang trí mây thiêng vờn vầng nhật nguyệt. Diềm thân bia trang trí hoa dây kim ngân. Rùa đội bia đầu chếch cao, cổ ngắn, mắt nhỏ, mồm nhọn, miệng khá dài không có răng nanh, lưng uốn cong có gò sống lưng, chân thì dài ra ngoài, chụm đủ 5 ngón.

Phần trên cùng sát với trán bia khắc niên đại tổ chức khoa thi theo thể chữ triện: “Chính Hòa tứ niên Quý Hợi khoa Tiến sĩ đề danh kí”.

        Khoa thi Hội này có đến 3.000 người dự thi, nhưng chỉ lấy đỗ 18 người. Đến tháng Giêng năm Giáp Tý tổ chức thi Đình, Hoàng thượng đích thân định thứ bậc cao thấp, lấy đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người: Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo, Bảng nhãn Phạm Quang Trạch, Thám hoa Quách Giai. Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo (1651-1719) người xã Hoài Bão huyện Tiên Du (nay thuộc xã Liên Bão huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông từng giữ các chức quan như Đô Ngự sử, Nhập thị Kinh diên, sau thăng Thượng thư Bộ Binh, Tham tụng kiêm Đông các Đại học sĩ và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc) thương lượng về việc đòi lại 3 động là Ngưu Dương, Hồ Điệp, Phổ Viên thuộc huyện Vị Xuyên xứ Tuyên Quang. Bảng nhãn Phạm Quang Trạch (xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm) làm quan đến chức Hữu Thị lang Bộ Lễ. Thám hoa Quách Giai (xã Phù Khê huyện Đông Ngàn) làm quan chức Thái thường Tự khanh.

        Trên bia có bài kí bằng chữ Hán do Cẩn sự lang Hàn lâm viện Hiệu thảo Nguyễn Kiều (1695-1752) soạn. Ông người xã Phú Xá huyện Từ Liêm (nay thuộc Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội), là chồng của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. 21 tuổi ông đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Binh và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Người nhuận bài văn bia là Tá lý công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Tham tụng, Thượng thư bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ Thiếu phó Liêm Quận công Nguyễn Quý Đức. Nguyễn Quý Đức đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Bính Thìn (1676), từng giữ nhiều trọng chức ở các trấn, ở Ngự sử đài và các Bộ: Hộ bộ Thượng thư, Đông các Đại học sĩ, Tham tụng… Nguyễn Quý Đức có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng thể chế, pháp luật và kinh bang tế thế.

          Bài kí cho chúng ta biết triều đình đã lựa chọn những vị quan đại thần tin cậy, tài đức đứng ra tổ chức khoa thi như: Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thiếu phó Lộc Quận công Đinh Văn Tả làm Đề điệu, Bồi tụng Ngự sử đài Đô Ngự sử Hải Sơn tử Nguyễn Danh Thực làm Tri Cống cử, Bồi tụng Tả Thị lang Nhập thị Kinh diên Vĩnh Ngạn tử Nguyễn Công Vọng, Bồi tụng Hữu Thị lang Bộ Lại Nguyễn Viết Đương làm Giám thí… Họ đã góp phần quan trọng trong việc lựa chọn nhân tài cho đất nước.

          Phần bài ký của văn bia đã thể hiện rõ quan điểm trọng hiền tài của triều đình: “Bởi vì hiền tài là khí dụng của quốc gia, khí dụng đủ thì điều khiển giao phó chẳng việc gì không được, chính sự không việc gì không làm nổi, mà cơ đồ không thể không vững chắc, thế đạo không thể không thịnh sáng vậy. Cho nên đời xưa trị nước, không gì gấp bằng cầu tìm hiền tài để tin giao công việc”. Cùng với đó là ngụ ý khuyên răn kẻ sĩ: “những người hiện đang được triều nay trọng dụng há không nhớ ơn lựa chọn của tiên vương, cảm nghĩ sự biểu dương ngày nay mà cẩn thận bước đường về sau, mỗi ngày một tiến để khỏi hổ thẹn với khoa danh sao? Thảng hoặc không được như thế, chỉ nặng nghĩ lo riêng cho mình mà nhẹ lòng vì việc nước, cầu may cho được chu toàn, thích xu nịnh, né tránh việc mất lòng, ắt không tránh khỏi công luận mai sau”.

          Đặc biệt, bia còn chép lại họ tên, thông tin của người viết chữ phần bài ký là Thị nội Thư tả Thủy binh phiên Tướng sĩ lang Phó sở sứ Ngô Bảo (chữ chân) và người viết chữ tiêu đề bia là Kim quan môn Đãi chiếu Triện thích thái hàm Tự thừa, Liêu Tường nam Nguyễn Đình Huy (chữ triện). Đây là những tác phẩm thư pháp tài hoa để lại cho đời sau.

          Bia Tiến sĩ khoa thi năm Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa 4 (1683) cùng với 81 bia Tiến sĩ khác là nguồn sử liệu vô cùng quý giá hiện còn lưu giữ tại di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám./.

 

DANH SÁCH TIẾN SĨ KHOA THI NĂM QUÝ HỢI NIÊN HIỆU CHÍNH HÒA 4 (1683):

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:

NGUYỄN ĐĂNG ĐẠO:  xã Hoài Bão huyện Tiên Du.

PHẠM QUANG TRẠCH: xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm

QUÁCH GIAI: xã Phù Khê huyện Đông Ngàn

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 1 người:

NGUYỄN ĐƯƠNG HỒ: xã Dương Húc huyện Tiên Du.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 14 người:

TRẦN THIỆN THUẬT: xã Bát Tràng huyện Gia Lâm.

LÊ ĐĂNG PHỤ: hương Biện Thượng huyện Vĩnh Phúc.

HOA CÔNG PHƯƠNG: xã An Dân huyện Đông Yên.

ĐỖ CÔNG TOẢN: xã Thượng Yên Quyết huyện Từ Liêm.

TRẦN PHỤ DỰC: xã Bảo Triện huyện Gia Định.

TRỊNH ĐỨC VẬN: xã Đại Mão huyện Siêu Loại.

TRẦN TIẾN GIÁN: Triền Dương huyện Chí Linh.

DƯƠNG CÔNG ĐỘ: xã Nhị Khê huyện Thượng Phúc.

ĐÀO TUẤN NGẠN: xã Ngọc Cục huyện Đường An.

PHÍ QUỐC THỂ: xã Thượng Trưng huyện Bạch Hạc.

NGUYỄN THỦ XỨNG: xã Hương Trai huyện Hương Sơn.

TẠ ĐĂNG VỌNG: xã Đại Phùng huyện Đan Phượng.

NGUYỄN LONG BẢNG: xã Chân Hộ huyện Yên Phong.

NGUYỄN ĐÌNH BÁCH: xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì.

 

An Nhiên

 

 


BIA TIẾN SĨ KHOA QUÍ MÙI NIÊN HIỆU QUANG THUẬN 4 (1463)

    Bia Tiến sĩ khoa Quí Mùi (1463) niên hiệu Quang Thuận 4 là một trong mười tấm bia đầu tiên được dựng trong đợt dựng bia năm 1484 dưới triều vua Lê Thánh Tông. 

    Bia có hình dáng dẹt, màu ghi đá, có chiều cao 152cm, chiều rộng 119cm, bề dày 17cm. Trán bia hình khung vòm có trang trí mây thiêng hình khánh ngọc. Mây thiêng vốn là một biểu tượng của Đạo giáo. Sự xuất hiện hình mây hình khánh nằm ở trung tâm trán bia cho thấy phần nào mức độ ảnh hưởng của Đạo giáo với bia Tiến sĩ. Ngay phía dưới trán bia là hàng chữ ngang khắc niên đại tổ chức khoa thi (Quang Thuận tứ niên Quý Mùi kho tiến sĩ đề danh kí) theo lối chữ triện cao 11cm. Thân bia có hình chữ nhật đặt trên lưng rùa. Đế bia hình rùa có tạo hình tinh tế  trong sự đơn giản với mai trơn nhẵn, sống lưng có gờ nhỏ, chân rùa có 5 ngón.

    Khoa thi này có tới 1.400 thí sinh, lấy đỗ 44 người. Ngày 16 tháng 2, Vua Lê Thánh Tông ngự ở hiên điện, đích thân hỏi về đạo trị nước của các bậc đế vương, sai Đề điệu là Kiểm hiệu tư đồ Bình chương sự kiêm Đô đốc bình chương sự Đông đạo chư vệ quân Nguyễn Lỗi và Quốc Tử Giám Tế tửu Lê Niệm. Độc quyển là các ông Tả ty môn hạ sảnh Tả gián nghị đại phu Tri Bắc đạo quân dân bạ tịch sảnh kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ Nguyễn Như Đổ; Hàn lâm viện thừa chỉ học sĩ Tri Đông đạo quân dân bạ tịch Nguyễn Vĩnh Tích; Quốc Tử Giám Tế tửu Nguyễn Bá Ký. Cử Chính sự viện Tham nghị chính sự Nguyễn Phục làm Giám thí.

    Sau khi dâng quyển lên đọc, đích thân Hoàng thượng xem xét và định thứ bậc cao thấp. Đỗ đầu làTrạng nguyên Lương Thế Vinh – người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Nam định, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học giỏi, được coi là thần đồng toán học. Ông làm quan đến chức thị thư viện Hàn Lâm, có nhiều cống hiến trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao và giáo dục. Tác phẩm nổi tiếng “Đại thành toán pháp” gắn liền với tên tuổi của Trạng nguyên Lương Thế Vinh.

    Đỗ Bảng nhãn là Nguyễn Đức Trinh – người huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách. Đặc biệt, đỗ Thám hoa trong khoa thi này là Quách Đình Bảo – người xã Phúc Khê, huyện Thanh Quan, Thái Bình. Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hình và đã từng sang sứ nhà Minh. Thám hoa Quách Đình Bảolà một trong mười tám vị minh quân phò tá có công lao lớn thời Lê Sơ, là một trong những danh thần được vua Lê Thánh Tông giao cho việc phụ trách xây dựng bia Tiến sĩ năm 1484. 

    Ngoài ra, trong 44 vị Tiến sĩ đỗ khoa thi này còn có Tiến sĩ Vũ Hữu – người huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, Hải Dương. Ông có tác phẩm nổi bật để lại cho hậu thế là “Lập thành toán pháp”. Trong danh sách các vị đỗ đệ tam giáp Tiến sĩ Đồng xuất thân còn có hai vị Tiến sĩ đã từng giữ chức Quốc Tử Giám Tư nghiệp là: Tiến sĩ Hoàng Bồi và Tiến sĩ Nguyễn Văn Chính. 

    Qua bài kí trên bia cho thấy sự trọng đãi của nhà vua với các vị tân khoa tiến sĩ. Ngày 22 tháng hai, nhà vua ngự điện Kính Thiên, cho gọi loa xướng tên người thi đỗ. Quan bộ Lễ rước bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa. Nhà vua còn ban áo mũ, yến tiệc để tỏ ý yêu mến đặc biệt, ơn sủng thật trọng hậu đối với các các nhà khoa bảng. Bài ký cũng nhắc đến sự đáng tiếc khi không thể dựng bia ngay sau khi tổ chức khoa thi: “Nhưng việc dựng đá đề tên vẫn chưa kịp làm, đến nay đã 22 năm, là chỗ thiếu sót của điển lễ”.

    Người được giao nhiệm vụ soạn bài văn bia là Đông các hiệu thư Đào Cử, viết chữ là Nguyễn Tủng và viết chữ triện là Tô Ngại

BP. 

 

 

 


TẤM BIA TIẾN SĨ NHÀ MẠC DUY NHẤT TẠI VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM

 

    Trong số 82 bia Tiến sĩ hiện lưu giữ tại di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám, có 81tấm bia được dựng dưới thời nhà Lê và duy nhất có 01 tấm bia được dựng dưới thời nhà Mạc, đó là bia đề danh Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức 3 (1529).

    Bia thuộc dạng bia dẹt, cao 1,58m, rộng 1,09m, dày 20 cm. Về mặt bố cục, bia gồm có 3 phần: trán bia, thân bia và đế bia.Trán bia trang trí hình mây thiêng vờn ngọc báu. Thân bia hình chữ nhật trên có bài ký chữ Hán. Tên bia khắc thể chữ Triện cao 11 cm. Đế bia hình rùa, rùa đội bia mắt to, tròn, mai không chạm khắc, có gờ giữa sống lưng.

    Bia được dựng vào tháng 11 năm 1529, tức 3 năm sau khi Mạc Đăng Dung lên ngôi và cho mở khoa thi để kén chọn nhân tài. Đặc biệt, có hai người cùng soạn bài ký cho tấm bia này. Đó là : Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Nguyễn Thì Ung và Đông các Hiệu thư Tư chính Thượng khanh Nguyễn Cư Nhân vâng sắc soạn. Thông chương đại phu Trung thư giám Chính tự Tư chính khanh Nguyễn Ngạn Chiêu vâng sắc viết chữ (chân).Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Tư chính khanh Nguyễn Tấn vâng sắc viết chữ triện.

    Khoa thi Kỷ Sửu (1529) là khoa thi đầu tiên do triều nhà Mạc tổ chức, có tới 4000 thí sinh tham gia dự thi. Ngày 18 tháng 2, Hoàng thượng đích thân ra đề hỏi về đạo trị nước và cách sử dụng nhân tài. Lại sai các quan như quan Đề điệu (Mạc Kim Phiêu, Binh bộ Thượng thư Mạc Ninh Chỉ), quan Độc quyển (Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Nguyễn Thanh, Lại bộ thượng thư Tế tửu Quốc Tử Giám Đinh Trinh) cùng các quan chia giữ các việc. Sau khi chấm lấy đỗ 27 người.  

    Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ lấy đỗ 3 người. Đó là Trạng nguyên Đỗ Tổng, Bảng nhãn Nguyễn Hãng, Thám hoa Nguyễn Văn Huy. Đỗ Tổng (1504-?) người xã Lại Ốc, huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Ông là người đỗ đầu khoa thi này. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Hình, Đông các Đại học sĩ. Nguyễn Hãng (1488-?) nguyên quán xã Vũ Lăng, huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội). Ông giữ các chức quan như Thị lang, Đông các Đại học sĩ. Nguyễn Văn Huy (1486-?) người xã Vịnh Cầu huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Nguyên huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ.

    Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân có 8 người. Trong đó có Nguyễn Doãn Địch người xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang; làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám. Đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân có 16 người.

    Có thể thấy, dưới triều nhà Mạc, triều đình rất coi trọng việc giáo dục và tuyển chọn nhân tài. Bài ký trên bia cho chúng ta biết, các vị Tiến sĩ sau khi thi đỗ được nhận rất nhiều ân điển của nhà vua : “Ngày 24, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai gọi loa xướng tên người đỗ. Bộ Lại ban ân mệnh, bộ Lễ rước bảng vàng treo trước cửa nhà Thái học. Ngày hôm đó lại ban cho tiền bạc có thứ bậc khác nhau. Ngày 27 ban cân đai áo mũ nhiều hơn lệ thường. Ngày 28 ban yến tại Bộ Lễ. Ngày mồng 7 tháng 3 cho phép vinh qui, ban tiền theo thứ bậc khác nhau, ơn huệ thật nồng hậu”. Nội dung bài ký còn là những lời răn dạy kẻ sĩ về vai trò, trách nhiệm đạo lý, mối quan hệ giữa danh và thực - để danh xứng với thực thì ở mỗi cương vị kẻ sĩ phải làm tốt công việc được giao: “Vậy nên mang đội ơn sâu, dốc lòng thực tiễn, lấy trung liêm dồi tiết cứng, lấy lễ nghĩa làm phép thường, giữ lòng thẳng thắn, chẳng lệch chẳng xiên, làm nên sự nghiệp lớn lao bền vững.Thảng hoặc có người ngoài vuông nhưng trong tròn, trước trinh trắng mà sau tì vết, điều nhìn thấy không đúng với điều được nghe, việc làm trái với sở học thì chỉ làm lụy cho khoa mục, làm tì vết cho bia đá này…”

 

Bia đề danh Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức 3 (1529).

 

DANH SÁCH CÁC VỊ TIẾN SĨ KHOA THI KỶ SỬU (1529):

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:

ĐỖ TỔNG                                        xã Lại ốc huyện Văn Giang

NGUYỄN HÃNG                                       xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc

NGUYỄN VĂN HUY                                xã Vĩnh Cầu huyện Đông Ngàn

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 8 người:

NGUYỄN VÂN QUANG                          xã Bình Sơn huyện Đông Ngàn

TRẦN THỤY                                            xã Ngọc Bộ huyện Thái Bình

PHẠM HUY                                               xã Mặc Khê huyện Thanh Lâm

ĐẶNG LƯƠNG TÁ                xã Đặng Xá huyện Thạch Thất

NGUYỄN HOẢNG                                    xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa

NGUYỄN DOÃN ĐỊCH                                      xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa

PHÍ THẠC                                                 xã Hương Ngải huyện Thạch Thất

NGUYỄN CHIÊU KHÁNH                      xã Yên Sở huyện Đan Phượng

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 16 người:

NGUYỄN HỮU HOÁN                                     xã Xuân Ứng huyện Quang Phúc

NGUYỄN ĐỊCH GIÁO                             xã Thượng Cốc huyện Gia Lộc

LÊ THỰC                                                   xã Ngọc Bộ huyện Văn Giang

HOÀNG KHẮC THẬN                             xã Đại Lý huyện Thuần Lộc

LÊ TẢO                                                      xã Phúc Khê huyện Từ Liêm

NGUYỄN QUÝ LƯƠNG                           xã Địa Linh huyện Phụ Dực

NGUYỄN ĐỨC KÝ                                   xã Đan Nhiễm huyện Văn Giang

AN KHÍ SỬ                                                         xã Nhĩ Độ huyện Nam Xương

VŨ NGUNG                                               xã Đoàn Lâm huyện Gia Lộc

CHU TAM DỊ                                            xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn

PHAN TẾ                                                   xã Nguyễn Xá huyện Thạch Thất

ĐINH THỤY                                              xã Tùng Quan huyện Đông Yên

PHẠM KINH BANG                                 xã Thì Trung huyện Thanh Oai

LƯƠNG NHƯỢNG                                    xã Nội Trà huyện Yên Phong

NGUYỄN DƯƠNG                                    xã Trà Lâm huyện Siêu Loại

NGUYỄN QUANG TÁN                           xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong

 

Danh sách các vị Tiến sĩ khoa thi Kỷ Sửu (1529): /media/uploads/2021/09/17/danh-sach-cac-vi-tien-si-khoa-thi-ky-suu_RchWC9V.docx

 

                                                                                                                                                    Thúy Hồng


BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA THI NĂM NHÂM TUẤT(1502) TẠI VĂN MIẾU-QUỐC TỬ GIÁM

     Trên 82 tấm bia đá lưu danh các vị Tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, số lượng các Tiến sĩ khắc tên trên một tấm bia có từ 3 đến 62 vị. Bia Tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Tuất (1502) là một trong hai tấm bia có số lượng Tiến sĩ khắc tên trên bia nhiều nhất. Tấm bia Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Tuất (1478) với 62 vị Tiến sĩ được khắc tên trên bia và thứ hai là biaTiến sĩ khoa thi năm Nhâm Tuất (1502) với 61 vị Tiến sĩ.

 

    Về hình dáng kích thước, Bia Tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Tuất (1502) có kích thước nhỏ, hình dáng dẹt, cao 155cm, rộng 111cm và dày 15cm, được chia làm 3 phần rõ rệt: Trán bia, Thân bia và Đế bia hình rùa. Trán bia hình vòm, được trang trí họa tiết “Mây thiêng vờn ngọc báu”. Thân bia hiện bị rạn nứt nhiều, diềm quanh thân bia được trang trí họa tiết hoa dây. Hàng chữ Triện chạy ngang qua phần trán bia có chiều cao 07cm. Đế bia hình rùa được tạo tác đơn giản, rùa có đầu to, không có chân, mắt to, mắt và mũi tạo thành hình chữ T, mai trơn nhẵn.

 

Bia đề danh Tiến sĩ khoa năm Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống 5(năm 1502)

 

           Về thời gian dựng bia, trên bia khoa thi 1502 có ghi hai mốc thời gian dựng bia khác nhau. Thông tin đầu tiên ghi bia được dựng vào ngày mùng 10 tháng 11 năm 1502 , tuy nhiên ở thông tin khác cuối văn bia lại ghi bia dựng ngày 15 tháng 9 năm 1536. Theo sách “Văn Miếu-Quốc Tử Giám và 82 bia Tiến sĩ” của cố PGS.TS Ngô Đức Thọ, có thể xảy ra trường hợp vào năm 1502 vì lý do nào đó chỉ mới viết bài ký mà chưa thực sự khắc chữ và dựng bia. Đến đầu triều Mạc bia mới được dựng và cho khắc bài ký trước đây lên bia.

 

 Mùa xuân năm Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống 5(năm 1502), theo lệ cũ, triều đình cho tổ chức khoa thi Hội. Tham gia kỳ thi này có rất đông thí sinh, số lượng lên tới 5000 người. Trải qua bốn trường thi đã chọn được 61 người vào thi Đình. Sau đó, các thí sinh được vua Lê Hiến Tông đích thân hỏi thi tại sân rồng. Sau kỳ điện thí, nhà vua đã chọn đủ tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa.  

 

     Trạng nguyên là Lê Ích Mộc, 44 tuổi, ông người xã Thanh Lãng, huyện Thủy Đường, nay là xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Sử sách chép rằng trước khi đi thi Lê Ích Mộc từng làm Đạo sĩ. Ông làm quan đến chức Tả thị lang. Bảng nhãn là Lê Sạn, 27 tuổi, ông người xã Vạn Phúc, huyện Thanh Đàm, nay là thôn Vạn Phúc, xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Lê Sạn làm quan tới chức Thượng thư bộ Hình, sau được thăng chức lên Thượng thư bộ Lại.  Thám hoa là Nguyễn Văn Thái, 24 tuổi, ông người xã Tiền Liệt, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc xã Đông Xuyên, huyện Ninh Giang, Hải Dương. Dưới thời Lê sơ ông giữ chức Đông các đại học sĩ, tới thời Mạc ông giữ chức Thượng thư, tước hầu.

 

     Đỗ hàng Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân có 24 người. Đỗ hàng Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân có 34 người, trong đó nổi bật có Tiến sĩ Lê Hiếu Trung, người xã Chi Nê, huyện Chương Đức, nay là huyện Chương Mỹ từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám.

 

     Bài ký văn bia do Lễ bộ Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ Đàm Văn Lễ - Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu (năm 1469) soạn. Nội dung cho chúng ta biết những thông tin rất quan trọng về chế độ khoa cử dưới thời Lê sơ. Cụ thể, kể từ khoa thi này, bảng vàng khắc tên các vị tiến sĩ được rước và treo ở cửa nhà Thái Học: “Mấy năm trước bảng vàng treo ở cửa ngoài Đông Hoa, năm nay sai bộ Lễ rước bảng có trống nhạc dẫn trước, đem treo ở cửa nhà Thái Học, cốt khiến cho sĩ tử nhìn thấy mà thêm phần khích lệ..”.  Triều đình cũng rất coi trọng việc tổ chức nghiêm túc các khoa thi, tuyển chọn nhân tài: “Qui phạm nghiêm ngặt, xử trí chặt chẽ, lựa chọn kỹ càng, thật đã chu đáo hết mức vậy. Nhờ thế danh sĩ hội tụ rất đông, người tài tìm đến, lựa chọn được nhân tài hơn hẳn mấy đời trước. Kẻ sĩ gặp thời cá nước, được hội gió mây..”.

 

 DANH SÁCH TIẾN SĨ KHOA THI NĂM NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU CẢNH THỐNG THỨ 5 (1502)

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:

LÊ ÍCH MỘC: xã Thanh Lãng huyện Thuỷ Đường phủ Kinh Môn.

LÊ SAN: xã Vạn Phúc huyện Thanh Trì phủ Thường Tín.

NGUYỄN VĂN THÁI: xã Tiền Liệt huyện Vĩnh Lại.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 24 người:

NGUYỄN CẢNH DIỄN: xã Yên Tử huyện Tân Minh phủ Nam Sách.

NGUYỄN ĐỨC KHÂM: xã Uông Hạ huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.

NGUYỄN NHƯ CÔN: xã Trại Sơn huyện Giáp Sơn.

TRẦN DỰC: xã Ngải Lăng huyện La Sơn

LÊ VĂN HỌC: xã Đông Tháp huyện Đông Thành

HẠ NGỌC CHÚC: xã Yên Duyệt huyện Chương Đức

NGUYỄN NGẠN: xã Yên Khoái huyện Phú Xuyên

NGUYỄN VĨNH KIÊN: xã Yên Ninh huyện Cẩm Giàng

ĐẶNG TUYÊN: xã Lạc Dục huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng

NGUYỄN BÁ TÙNG: xã Tạ Xá huyện Tứ Kỳ

NGUYỄN ĐỐC: xã Thổ Giá huyện Nông Cống

VŨ BÁ DUNG: xã Thanh Giản huyện Đường An

VŨ CÁN: xã Mộ Trạch huyện Đường An

NGÔ VĂN HUY: xã Trâu Khê huyện Đường An

TRƯƠNG ĐỨC QUANG: xã Ngọc Xuyết huyện Hoằng Hoá

NGUYỄN CHƯỞNG: xã Thanh Thuỷ huyện Tiên Phúc

HOÀNG SĨ DỊCH: xã Lai Xá huyện Lương Tài

NGUYỄN VĂN HIẾN: xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại

VŨ BÁ THẮNG: xã Cựu Sơn huyện Yên Phong

MAI ĐỨC BÁ: xã Thạch Lỗi huyện Thạch Hà

NGUYỄN TỰ: xã Vĩnh Mỗ huyện Sơn Vi

ĐOÀN NHÂN THỤC: xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm

BÙI DỤC TÀI: xã Dương La huyện Hải Lăng

 LÊ NHÂN TẾ: xã Đại Nhuệ huyện Hoằng Hoá

 Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, 34 người:

PHẠM KHIÊM BÍNH: xã Lãm Sơn huyện Quế Dương

NGUYỄN VĂN KIỆT: xã Mỹ Xá huyện Ngự Thiên

NGUYỄN DUY MINH: xã Thượng Cốc huyện Gia Lộc

NGUYỄN KIM: xã Thạch Lựu huyện An Lão

DOÃN MẬU KHÔI: xã Yên Dục huyện Thượng Phúc

NGUYỄN TỬ TRỌNG: xã An ấp huyện Hương Sơn

CHỬ THIÊN KHẢI: xã Cối Giang huyện Đông Ngạn

LÊ DỰC: xã Bối Khê huyện Thanh Oai

ĐỖ VĂN HIỆU: xã Hữu Quang huyện Yên Sơn

HOÀNG TỬ NGHI: xã Công Luận huyện Văn Giang

NGUYỄN VĂN HIẾN: xã Yên Định huyện Yên Dũng

ĐINH TRINH: xã Vị Khê huyện Thanh Lan

ĐÀO NHƯ HỔ: xã Triều Đông huyện Thượng Phúc

HOÀNG NHẠC: xã Hoàng Xá huyện Đông Thành

VŨ NGHI HƯỚNG: xã Đại Vi huyện Tiên Du

BÙI TÂN: xã Kim Bảng huyện Thiên Bản

LÊ KIM CHƯƠNG: xã Thanh Mai huyện Yên Phong

NGUYỄN THẾ MỸ: xã Lang Khuê huyện Tiên Lữ

NGUYỄN TRỌNG HƯNG: xã Đại Đồng huyện Siêu Loại

BÙI DOÃN CHÍNH: xã Thắng Trí huyện Bình Tuyền

PHẠM TRÁNG: xã Dũng Nhuệ huyện Giao Thuỷ

TRẦN LỰ: xã Bình Vọng huyện Thượng Phúc

PHAN ĐÌNH MỤC: xã Tây Hồ huyện Quảng Đức

NGUYỄN XUÂN LAN: xã Thì Mại huyện Bảo Lộc

TRẦN HUYÊN: xã Diên An huyện Kim Động

LÊ HIẾU TRUNG: xã Chi Nê huyện Chương Đức

NGUYỄN ĐOAN: xã Thuy Chương huyện Quảng Đức

LÊ ĐÌNH TƯỞNG: xã Cao Mật huyện Kim Bảng

ĐÀO THÚC VIỆN: xã Song Khê huyện Yên Dũng

NGUYỄN VĂN ĐỆ: xã Yên Nhân huyện Chương Đức

VŨ BÁ HUYÊN: xã Tùng Du huyện Gia Phúc

MẠC VĂN UY: xã Mạc Xá huyện Thanh Lâm

NGUYỄN TỬ KIẾN: xã Trạch Lôi huyện Thạch Thất

NGUYỄN MẬU: xã Du La huyện Thanh Hà

 

CT

 

 


HOA SEN TRANG TRÍ TRÊN BIA TIẾN SĨ TẠI VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM

 

         Hoa sen là loài hoa đẹp, tượng trưng phẩm chất thanh cao, tinh khiết, hình tượng hoa sen rất quen thuộc trong văn hóa Việt Nam.  Hoa sen xuất hiện khá sớm trong nghệ thuật tạo hình, được phản ánh trong kiến trúc và điêu khắc, tạo nên các phong cách “Hoa sen trong mỹ thuật cho từng thời đại”.

 

          Hoa sen cũng là một trong những đồ án hoa văn tiêu biểu được trang trí trên diềm bia Tiến sĩ ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Đề tài hoa sen trên bia Tiến sĩ xuất hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau và mang giá trị thẩm mỹ cao như: Hoa sen cách điệu hình mây xoắn, Đồ án Liên hoa bảo tòa ( Bệ hoa sen), Đồ án Hoa sen dây…

 

*Hoa sen cách điệu hình mây xoắn

 

(Ảnh: Hình ảnh trang trí hoa sen cách điệu thời Lê sơ trên bia Tiến sĩ khoa thi năm 1478

Nguồn: Nét Việt trên bia Tiến sĩ Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Trần Hậu Yên Thế, Trần Trung Hiếu, NXB Mỹ Thuật 2018)

 

         Hình tượng Hoa sen được trang trí ở diềm bia Tiến sĩ đã xuất hiện ngay từ những tấm bia đầu tiên thời Lê sơ. Cách thức thể hiện hình Hoa sen là trung tâm bao trùm cả đồ án. Hoa sen bố cục nhìn nghiêng thấy rõ từng lớp hoa. Trong cùng là búp hoa còn xếp kín chưa nở. Tiếp đó là các lớp cánh sen tỏa đều ra hai bên. Cánh sen được cách điệu cao hình xoáy trôn ốc gần cuối, đầu cánh hoa vát nhọn. Nhìn từng cánh hoa như hình mây xoắn. Hai bên là cánh sen kiểu mây hóa.

 

         Đồ án Hoa sen cách điệu thành hình mây xoắn như thế này xuất hiện chủ yếu trên một số ít những tấm bia Tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám thế kỷ XV. Thời kì này họa tiết trang trí trên diềm bia Tiến sĩ thường là những đường chạm khắc mảnh, sắc nét, thanh thoát.

 

*Đồ án Liên hoa bảo tòa ( Bệ hoa sen)

 

(Ảnh: Trang trí Đồ án Liên hoa Bảo tòa trên diềm chân bia Tiến sĩ thế kỷ XVI, VII)

 

         Đồ án Liên hoa Bảo tòa (Bệ hoa sen) giống như cách trang trí dưới những chân bệ tượng Phật trong kiến trúc Phật giáo xuất hiện ở diềm chân bia Tiến sĩ. Tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám có hơn 10 tấm bia Tiến sĩ khoảng thế kỉ XVII có diềm chân bia được trang trí bằng dạng đồ án Bệ hoa sen với những dạng thức khác nhau.

 

         Bố cục của Đồ án Liên hoa Bảo tòa  được trang trí trên diềm chân bia Tiến sĩ thường là những đài sen lớn. Cánh sen ở đây có 1 đến 3 lớp xếp chồng xen kẽ nhau, nối tiếp nhau theo chiều ngang của thân bia. Các lớp cánh hoa được chạm nông, cánh hoa cách điệu thành hình mây xoắn.

 

*Đồ án Hoa sen dây

 

(Ảnh: Đồ án Hoa sen dây trang trí trên diềm bia Tiến sĩ khoa thi năm 1554)

 

         Một loại đồ án Hoa sen trên bia Tiến sĩ xuất hiện khá độc đáo nữa là Hoa sen cách điệu thành Hoa sen dây.

         

         Đồ án kết hợp của 2 loại hoa: hoa cúc và hoa sen. Người nghệ nhân đã bố cục xen kẽ một hoa sen rồi đến một hoa cúc. Hai loài hoa nối tiếp nhau bằng dây và lá kết kín bốn cạnh của diềm bia Tiến sĩ.

 

         Đồ án hoa dây mang tình ước lệ rất cao. Vì trên thực tế lá sen và lá cúc khác hẳn so với lá thể hiện trên đồ án và hai loài hoa này cũng không phải là loài dây leo. Qua đó, cho thấy óc sáng tạo và sự khéo léo của đôi tay các nghệ nhân xưa.

 

*Trang trí hoa sen trên diềm bia Tiến sĩ

 

(Ảnh: Trang trí hoa sen trên diềm bia bia Tiến sĩ, Văn Miếu – Quốc Tử Giám)

 

         Phần lớn hình ảnh hoa sen trang trí trên diềm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám được thể hiện bằng bút pháp cách điệu cao, rất hiếm khi dùng cách tả thực. Duy nhất chỉ có trên 2 tấm bia khoa thi 1580 và khoa thi 1589, hình ảnh hoa sen hiện lên sinh động, chân thực và rõ nét.

 

         Trên diềm bia khoa thi năm 1580, xen kẽ giữa các loài hoa khác là hình ảnh  hoa sen rất đẹp. Bông sen được nghệ nhân thể hiện theo góc nhìn nghiêng: Cánh hoa nở bung mềm mại, lá sen uốn cong xuống phía dưới, phía trên bông sen đang khoe sắc là một đài sen vươn cao mạnh mẽ. Hình ảnh hoa sen được chạm khắc sâu, sắc nét với bút pháp tả thực sống động.

 

         Trên diềm chân bia Tiến sĩ khoa thi năm 1589, hình  ảnh hoa sen lại hiện lên với khung cảnh rất bình dị những không kém phần nên thơ. Đó là hình ảnh đầm sen với đàn cò vạc đang kiếm ăn. Bút pháp tả thực lãng mãn, làm tăng thêm vẻ đẹp và giá trị mỹ thuật của Di sản Tư liệu Thế giới 82 tấm bia Tiến sĩ.

AV

 


BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA ẤT MÙI (1475) TẠI VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM

 

    Năm 1484, vua Lê Thánh Tông bắt đầu cho dựng bia đá đề tên Tiến sĩ. Có 7 trong 10 tấm bia được dựng ở đợt đầu tiên này hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Bia đề danh Tiến sĩ khoa thi năm Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức 6 (1475) là một trong 7 tấm bia đó.

    Bia có kích thước nhỏ nhưng tỷ lệ hài hòa. Thuộc dạng bia dẹt với chiều cao 154cm, rộng 119 cm và dày 18 cm, bia gồm 3 phần: trán bia, thân bia và đế bia. Trán bia hình vòm, trang trí theo hình thức mây vờn mặt trời. Thân bia hình chữ nhật trên có khắc văn bia chữ Hán theo chiều dọc; diềm bia trang trí hoa dây, các đường nét chạm mảnh. Đế bia hình rùa được chạm khắc tinh tế, đầu ngẩng cao chếch ra phía trước, miệng rộng có hai răng nanh, mắt khá to, lồi, tròn bầu dục, mai rùa không chạm khắc, chân rùa có 5 móng gắn vào thân.

    Tháng 3 năm Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức 6 (1475), triều đình tổ chức thi Hội cho cử nhân trong nước. Tham gia kỳ thi có tới hơn 3000 thí sinh, trải qua bốn trường thi chỉ chọn được 43 người vào thi Đình. Đến ngày 11 tháng 5, nhà vua “ngự điện Kính Thiên, thân ra đề văn sách, hỏi về đạo vua tôi ngày xưa để chọn thứ bậc”. Đây là khoa thi thứ năm được tổ chức thời vua Lê Thánh Tông. Sau kỳ Điện thí, nhà vua chọn đủ Tam khôi: Trạng nguyên là Vũ Tuấn Chiêu 49 tuổi, ông người huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (nay thuộc phường Nhật Tân, quận Tây Hồ. Nguyên quán xã Cổ Lôi, huyện Tây Chân, nay là thôn Xuân Lôi, xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Vũ Tuấn Chiêu sau làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang. Hiện nay, tại xã Nam Hùng, huyện Nam Trực còn đền thờ ông. Đậu Bảng nhãn là Ông Nghĩa Đạt, người xã Phú Gia, huyện Từ Liêm, nay là thôn Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ. Ông làm quan đến chức Phó Đô ngự sử, từng đi sứ nhà Minh. Thám hoa là Cao Nghĩa, 37 tuổi, người xã Cao Xá, huyện Đông Thành, nay là xã Diễn Thành huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Ông làm đến chức Đông các đại học sĩ.

    Đỗ hàng Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân có 13 người. Đáng chú ý có Tiến sĩ Nguyễn Kim, người tỉnh Bắc Ninh, từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Đỗ hàng Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân có 27 người, trong đó Tiến sĩ Nguyễn Lê Kính, người tỉnh Bắc Giang từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám.

    Bài văn bia do Đông các hiệu thư Lê Tuấn Ngạn - Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức 3 (năm 1472) soạn. Nội dung cho thấy, việc giáo dục đào tạo nhân tài rất được chú trọng dưới thời vua Lê Thánh Tông: “Hiền tài đối với quốc gia, cũng như nguyên khí con người ta không thể một ngày không có”; Nhất là việc lập trường học, mở khoa thi, càng để lòng chăm chú hơn”. Văn bia còn nhắc nhở kẻ sĩ, dù là các Tiến sĩ có tên trên bia, hay kẻ sĩ trong thiên hạ về cách sống, cách làm việc, cách cư xử cùng đạo lý, luân thường : “Nay những người thi đỗ đều đã được bổ nhiệm khắp nơi….tất cả đều lo nung nấu lòng ngay, trau dồi tiết lớn, nêu cao thanh danh lừng lẫy, công nghiệp lỗi lạc, ngõ hầu trên không phụ ơn triều đình cất nhắc, dưới không phụ chí khí hoài bão trong đời. Thảng hoặc có kẻ không được như thế, đời sau sẽ có người chỉ vào tên mà bàn tán rằng : người này trung chính, kẻ kia gian tà; người này thanh liêm giữ mình, người kia tham lam mất chức…ắt không tránh khỏi sự khen chê của người đời. Thế thì tấm đá này dựng lên không chỉ để nêu thanh danh và lưu tiếng tốt, khiến cho người thi đỗ được vẻ vang nhất thời mà thôi đâu, mà thâm ý khuyên răn thực gửi vào trong đó”.

    Văn bia còn cho ta biết tên và chức vụ, trách nhiệm các quan chịu trách nhiệm về khoa khi này như: Quan Đề điệu là Thượng tướng quân phò mã đô uý Đông quân đô đốc phủ tả đô đốc Đoan Vũ bá Trịnh Công Lộ và Lại bộ thượng thư Hoàng Nhân Thiệm; quan Độc quyển là Triều liệt đại phu Hàn lâm viện thị độc kiêm Đông các học sĩ Thân Nhân Trung, Đông các hiệu thư Đỗ Nhuận, Đông các hiệu thư Quách Đình Bảo; quan Giám thí là Thái tử thiếu bảo Ngự sử đài đô ngự sử Trần Phong và Binh khoa đô cấp sự trung Phí Bá Khang.

    Phần cuối văn bia còn khắc họ tên người viết chữ, người khắc bia. Bia khoa thi này do Trung thư giám chính tự Thái Thúc Liêm viết chữ, và Mậu lâm lang kim quang môn đãi chiếu Tô Ngại, người viết chữ Triện. Với bàn tay khéo léo, tài hoa của mình, họ đã để lại cho đời sau một tác phẩm  nghệ thuật độc đáo, là nguồn sử liệu quý giá về nền giáo dục khoa cử Việt Nam thời quân chủ.

 

(Ảnh: Bia đề danh Tiến sĩ khoa Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức 6 (1475))

 

DANH SÁCH TIẾN SĨ KHOA THI NĂM ẤT MÙI NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC THỨ 6 (1475)

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:

VŨ TUẤN CHIÊU

huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên

ÔNG NGHĨA ĐẠT

huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai

CAO QUÝNH

huyện Đông Thành phủ Diễn Châu

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 13 người:

PHẠM XÁN

huyện Đường An phủ Thượng Hồng

TRẦN THÂM

huyện Thiện Tài phủ Thuận An

ỨNG NGẠN LƯỢNG

huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín

VƯƠNG HIỂN

huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách

NGUYỄN TẤN VĨ

huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng

LÊ QUẢNG DU

huyện Lôi Dương phủ Thiệu Thiên

PHẠM HƯNG VĂN

huyện Thanh Lan phủ Tân Hưng

ĐỖ TRÍ TRUNG

huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai

KIỀU PHÚ

huyện Ninh Sơn phủ Quốc Oai

NGUYỄN KIM

huyện Tiên Du phủ Từ Sơn

ĐỖ TUYỀN

huyện Phụ Dực phủ Thái Bình

VŨ MẪN TRÍ

huyện Kim Thành phủ Kinh Môn

NGUYỄN TUẤN

huyện Đông Yên phủ Khoái Châu

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 27 người:

ĐỖ VINH

huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng

PHAN PHÚC CẨN

huyện La Giang phủ Đức Quang

NGUYỄN DUY TIẾU

huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng

NGUYỄN ẤU MIỄN

huyện Quế Dương phủ Từ Sơn

NGUYỄN QUAN HIỀN

huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai

HOÀNG THIỆU

huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai

ĐỖ TƯƠNG

huyện Ngọc Sơn phủ Tĩnh Ninh

NGUYỄN MINH KHANG

huyện Ngự Thiên phủ Tân Hưng

NGUYỄN TRINH

huyện Lập Thạch phủ Tam Đới

VŨ TRIỆU DUNG

huyện Phụ Dực phủ Thái Bình

NGUYỄN CUNG

huyện Bình Hà phủ Nam Sách

NGUYỄN ĐẠC

huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn

NGUYỄN TĨNH

huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang

PHAN QUÝ

huyện Siêu Loại phủ Thuận An

THÁI THUẬN

huyện Siêu Loại phủ Thuận An

NGUYỄN SÙNG NGHÊ

huyện Vĩnh Xương phủ Phụng Thiên

TRẦN MÔ

huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai

ĐOÀN MẬU

huyện An Lão phủ Kinh Môn

NGUYỄN LI CHÂU

huyện Yên Lãng phủ Tam Đới

NGUYỄN LỄ KÍNH

huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang

TẠ ĐỨC HẢI

huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn

TẠ THÔNG

huyện Sùng Yên phủ An Bình

NGUYỄN DƯƠNG HIẾN

huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang

ĐỖ CHÍNH LẠC

huyện Đường An phủ Thượng Hồng

NGÔ LUÂN

huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn

NGUYỄN TƯ PHỤ

huyện Chí Linh phủ Nam Sách

NGUYỄN TƯ PHÚC

huyện Lập Thạch phủ Tam Đới

media/uploads/2021/08/18/danh-sach-tien-si-khoa-thi-nam-at-mui-nien-hieu-hong-uc-thu-6.docx

                                                                                                                                                                                 LH        

 


TẤM BIA TIẾN SỸ ĐẦU TIÊN ĐƯỢC DỰNG TẠI VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM

    Để biểu dương nhân tài, khuyến khích việc học tập, ngày 15 tháng 8 năm 1484, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu cho dựng bia đề danh Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long. Bia đề danh Tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) là một trong 10 tấm bia Tiến sĩ đầu tiên được dựng trong đợt này tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

    Bia có kích thước nhỏ, chiều cao 108 cm, chiều rộng 52 cm, dày 18 cm. Trán bia hình khung vòm được trang trí mây vờn ngọc báu, cây thiêng, cỏ lạ. Diềm bia trang trí hoa dây thảo Đường. Rùa đội bia có đầu tròn, ngẩng cao, hơi chếch về phía trước; miệng rộng, có răng nanh; mắt rùa to, lồi tròn, dáng khoan thai thể hiện ước vọng trường tồn vĩnh cửu của tri thức. Phần trên cùng sát với trán bia khắc niên đại tổ chức khoa thi: “Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký” theo lối chữ Triện.

 

Bia khoa thi 1442 đặt trong nhà đình bia. Bên ngoài khắc câu đối ca ngợi đạo học và việc khắc tên Tiến sĩ.

    

Trên bia khắc bài văn bia bằng chữ Hán do Đông các đại học sĩ Thân Nhân Trung soạn. Bài văn bia gồm bài ký, danh sách các vị đỗ Tiến sĩ, cuối cùng là họ tên, chức vụ của người soạn văn bia, người viết chữ, năm dựng bia. Bia ghi rõ số người dự thi Hội là 450, số người đỗ 33 Tiến sĩ.

    Người đỗ Trạng nguyên là Nguyễn Trực, người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên. Nguyễn Trực là vị Trạng nguyên khai khoa của nhà Lê, cũng là vị tiến sĩ đầu tiên được khắc tên trên bia Tiến sĩ. Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, từng đi sứ nhà Minh. Đỗ Bảng nhãn của khoa thi này là Nguyễn Như Đổ, người xã Duyên Hà huyện Thanh Trì, Hà Nội, cũng đã từng là Tế tửu Quốc Tử Giám. Đỗ Thám hoa là Lương Như Hộc, người  xã Hồng Liễu, huyện Trường Tân, tỉnh Hải Dương, nay là xã Thanh Liễu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Ông là người đầu tiên truyền dạy nghề in mộc bản cho dân hai làng Liễu Tràng và Hồng Lục quê ông. Ngoài ra, trong số 33 vị tiến sĩ của khoa thi này còn phải kể đến nhà sử học Ngô Sĩ Liên, người xã Chúc Sơn, huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội). Ông là người có công lớn trong việc biên soạn bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư gồm 15 bộ. Ông cũng từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám.

    Trên bia đá khoa thi năm 1442, còn ghi lại đầy đủ họ tên của các vị quan trông thi, chấm thi đều là những vị quan đại thần như: Thượng thư Lê Văn Linh, Ngự sử đài thị ngự sử Triệu Thái, Nội mật viện tri viện sự Trình Thuấn Du…và đặc biệt giám khảo của khoa thi 1442 còn có Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi -  những người đã góp phần quan trọng vào việc tổ chức kỳ thi, chấm thi chọn ra được  nhân tài cho đất nước. Đặc biệt, bia còn chép lại họ tên, thông tin của người viết chữ  tấm bia là Trung thư giám Nguyễn Tủng, Mậu lâm lang Kim quang môn đãi chiếu Tô Ngại. Với đôi tay tài hoa, khéo léo họ đã tạo tác ra một tác phẩm nghệ thuật độc đáo cho muôn đời sau.

     Phần ký của văn bia cung cấp nhiều thông tin quan trọng về lịch sử của nền giáo dục và quan điểm của nhà nước về đào tạo và sử dụng nhân tài. Đông các đại học sỹ Thân Nhân Trung đã được vua Lê Thánh Tông giao soạn bài ký khắc trên bia năm 1442. Ông đã nêu bật được tầm quan trọng của hiền tài đối với mỗi quốc gia trong bài ký khắc trên bia: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần kíp”. Đây là lời tuyên ngôn cho tinh thần, cho mục tiêu của  nền giáo dục Đại Việt, là lời khuyến học cho các thế hệ học trò.

    Bia Tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3 (1442)  là nguồn sử liệu chứa đựng những giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục. Tấm bia hiện nay được đặt trong nhà đình bia bên dãy bia bên Đông. Mặt ngoài nhà đình bia có khắc câu đối ca ngợi đạo học và việc khắc tên tiến sĩ.

“Xa thư cộng đạo kim thiên hạ

Khoa giáp liên đề cổ học cung”

Nghĩa là:

(Thiên hạ ngày nay xe cùng cỡ bánh, viết cùng văn tự, cùng theo đạo Nho

Nhà học xưa liên tiếp đề tên người trong khoa bảng)

 

                                                                                                                                                                                                        LH


ĐỒ ÁN DÂN GIAN “LỘ LỘ LIÊN HOA” TRÊN BIA TIẾN SĨ TẠI VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM

 

    Đồ án dân gian “Lộ lộ liên hoa” là một hình ảnh rất đỗi quen thuộc ở mỗi làng quê Việt Nam: một đầm sen rộng lớn, xen lẫn giữa lá sen, búp sen và đài sen là đàn cò, đàn vịt đang tung tăng bơi lội. Xuất hiện trên bia Tiến sĩ, “Lộ lộ liên hoa” đã đem lại sự thú vị và ngạc nhiên cho người xem. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ý nghĩa của mô típ trang trí này nhé!

Bia đề danh tiến sĩ khoa thi Kỷ Sửu niên hiệu Quang Hưng 12 (1589)

Đồ án Lộ lộ liên hoa trang trí trên chân bia tiến sĩ.

    82 tấm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, không chỉ là những pho sử quí về nền giáo dục Việt Nam thời quân chủ mà còn là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc mang phong cách điêu khắc đặc trưng của các triều đại. Trên trán bia, diềm bia đều được được tạo tác các đồ án trang trí sinh động, đa dạng và giàu tính hiện thực. Trong số đó, phải kể đến đồ án trang trí trên diềm bia tiến sĩ khoa thi Quang Hưng thứ 12 (năm 1589): Lộ lộ liên hoa (tức cò và sen). Đó là cảnh một đầm sen rộng lớn chạy dài suốt cả diềm chân bia. Trên mặt nước rộng bao la thỉnh thoảng nhô lên một khóm sen với những lá sen, búp sen, được chạm khắc rất khỏe. Xen vào giữa là những con cò, con vịt đang bơi lội. Đây là một bức tranh đẹp, hoàn chỉnh, giàu chất hiện thực, đậm đà màu sắc quê hương mà ta thường thấy trong cuộc sống hàng ngày ở các vùng làng mạc, ruộng đồng trên đất nước Việt Nam.

 

Đồ án Lộ lộ liên hoa trang trí trên chân bia tiến sĩ.

 

    Bia Tiến sĩ là nơi ghi danh những vị Tiến học giỏi, đỗ cao, chính vì vậy đề tài trang trí trên bia cũng thường phản ánh niềm vui đỗ đạt, sự may mắn, hanh thông trên con đường học vấn, con đường quan lộ của các nhà khoa bảng. Đề án Lộ lộ liên hoa không phải là một ngoại lệ. Đây là dạng đồ án cát tường chỉ sự may mắn với hài thanh ngụ ý (đồng âm) ẩn dụ cho sự hiển đạt hanh thông, đăng khoa liên tiếp của các sĩ tử.

    Có thể thấy, bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám được các nghệ nhân, nhà khoa bảng nổi tiếng đương thời tạo tác. Mỗi tấm bia, mỗi đồ án trang trí quả thực là một tác phẩm độc đáo mang giá trị nghệ thuật cao. Bởi chúng không chỉ là kết tinh của trí tuệ, tài năng, bàn tay khéo léo mà còn phản ánh cảm xúc và ý tưởng thâm thúy của những nhà văn hóa, thư pháp, nghệ nhân hàng đầu Việt Nam qua các thời kỳ.

 

Các bạn học sinh trải nghiệm in họa tiết Lộ lộ liên hoa

    Đến tham quan di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám, bạn sẽ có cơ hội để chiêm ngưỡng những tuyệt tác nghệ thuật này. Thậm chí nếu muốn, với phương pháp in mộc bản truyền thống, bạn có thể tự tay in và mang về nhà những hoa tiết hoa văn cổ cách đây hàng trăm năm, gửi gắm trong đó những triết lý sâu xa của các bậc tiền nhân.

 

                                                                                                                                            LH


ĐÁ AN HOẠCH - CHÂT LIỆU TẠC BIA TIẾN SĨ

TẠI VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM

 

         Đến thăm Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, du khách đặc biệt quan tâm đến những giá trị lịch sử văn hóa của Bảo vật Quốc gia, Di sản Tư liệu Thế giới 82 tấm bia Tiến sĩ, song ít ai để ý tìm hiểu sâu về chất liệu độc đáo của những pho sử liệu bằng đá quí hiếm này. Đá thanh thạch dùng để tạc bia có màu xanh lam, óng ánh như khói biếc, được khai thác từ dãy núi làng An Hoạch, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

 

Hàng bia Tiến sĩ trầm mặc với sắc đá thanh thạch ánh màu khói biếc

 

         Bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là những tác phẩm nghệ thuật mang  đậm dấu ấn điêu khắc của từng triều đại quân chủ. Việc chạm khắc bia được thực hiện rất công phu. Công việc thường do các quan Thượng thư, Tham tri bộ Lễ đích thân trông nom. Việc chọn đá, tuyển thợ khắc do bộ Công đảm nhiệm . Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748) còn ghi rõ việc hai đội thợ được chọn làm bia “lấy đá làng An Hoạch, huyện Đông Sơn vâng mệnh khắc chữ” (trích sách Văn Miếu - Quốc Tử Giám và 82 bia Tiến sĩ - Ngô Đức Thọ chủ biên).

 

         Làng An Hoạch (còn gọi là làng Nhồi hay thôn Nhuệ) là một làng cổ nằm ở Tây Nam thành phố Thanh Hóa, nay thuộc Phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trong khu vực này, có một dãy núi đá được người dân  gọi là núi Nhồi, núi Khế, núi An Hoạch hay núi Vọng Phu… Đá trên núi có kết cấu rất đặc biệt, màu sắc đa dạng: đen tuyền, đỏ, nâu, vàng, xanh lam (xanh khói)...  Trong đó, đá đen và đá thanh thạch (xanh lam) là loại quí  hiếm  nhất. Hai loại đá này thớ mịn, ít hợp chất, liền khối nên độ phong hóa thấp. Bởi vậy, từ xưa thường được chọn làm các vật quý, để lưu lại muôn đời.

 

Chất liệu đá thanh thạch dùng  làm bia Tiến sĩ có màu xanh khói, mặt đá mịn, bền, ít bị phong hóa

 

         Mô tả về chất liệu đá đặc biệt này, văn bia chùa Báo Ân trên núi An Hoạch, tỉnh Thanh Hóa chép: "Sắc đá óng ánh như ngọc lam, chất xanh biếc như khói nhạt. Sau này đục thành khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì tiếng vang muôn dặm, dùng làm bia, văn chương để lại thì còn mãi ngàn đời". (Thơ văn Lý - Trần, (tập 1), Nxb. KHXH, Hà Nội, 1997, tr. 130)

 

            

Họa tiết hoa Bảo tiến khắc nổi trên diềm bia Tiến sĩ có sắc ánh xanh như khói biếc

 

         Năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ để đề cao hiền tài,  tôn vinh đạo học, lưu danh muôn đời. Với chất liệu đá độc đáo vừa bền đẹp vừa có độ mềm, mịn phù hợp, thuận lợi cho kỹ nghệ chạm khắc các hoa văn tinh xảo, đá thanh thạch  ở An Hoạch - Thanh Hóa  đã được chọn để tạc bia Tiến sĩ. Cấu tạo bền vững của loại đã này góp phần quan trọng giúp 82 tấm bia Tiến sĩ  tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám dãi dầu mưa nắng, vượt qua thời gian để thành những hiện vật “độc đáo, quí hiểm, không thể thay thế”, đủ tiêu chuẩn để được công nhận là Di sản Tư liệu Ký ức Thế giới (năm 2011) và Bảo vật quốc gia (năm 2015).

 

         Ngày nay, bia Tiến sĩ luôn được chú trọng bảo tồn. Năm 1994, cùng với sự tài trợ Công ty American Express, Chính phủ Việt Nam đã cấp kinh phí cho dựng lại 8 nhà che bia mới. Công trình được  thiết kế theo phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, dung dị, trang nghiêm, hài hòa với khung cảnh của khu vườn bia, Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang và cổng Đại Thành  khiến cho du khách - những ai chưa từng đến thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám khi những hàng bia đá cổ kính còn nằm ngoài mưa nắng thì khó có thể nhận ra được đâu là cũ, đâu là mới.

AV


NĂM TÂN SỬU GỢI NHỚ HÌNH ẢNH TRÂU TRÊN BIA TIẾN SĨ TẠI VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM

 

         Bia Tiến sĩ không chỉ phản ánh rõ nét chế độ khoa cử giáo dục Nho học, vinh danh nhân tài, mà còn thể hiện những giá trị mỹ thuật đặc sắc mang đậm truyền thống văn hoá của Việt Nam. Sự xuất hiện hình ảnh con Trâu trên diềm bia Tiến sĩ (khoa thi năm 1643) là một minh chứng rõ ràng cho điều đó.

 

         Trâu đứng thứ hai trong 12 con giáp, có vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp lúa nước. Có lẽ chỉ có ở nền văn minh nông nghiệp lúa nước lâu đời mới có những phong tục, lễ hội như: chọi trâu, thi trâu, tạ ơn trâu… Bởi con Trâu trong văn hoá Việt Nam tượng trưng cho sự chắc chắn, trung thành, chăm chỉ và thật thà. Con Trâu từ xa xưa đã đi vào tín ngưỡng đời sống xã hội của người Việt, vừa gần gũi vừa thiêng liêng. Hình ảnh con Trâu trở thành nguồn cảm hứng trong các sáng tác thi ca, hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc… của Việt Nam.

 

         Thật thú vị khi trên diềm bia Tiến sĩ khoa thi năm Quý Mùi niên hiệu Phúc Thái 1 (năm 1643) lại xuất hiện hình ảnh con Trâu. Đây là tấm bia Tiến sĩ duy nhất trong hệ thống bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám chạm hình ảnh con trâu. Đó là mảng chạm khắc hình hai viên quan đứng bên con trâu, mảng chạm tuy nhỏ nhưng rất rõ thần thái nhân vật. Hai vị quan từ trang phục đến nét mặt đều rất khoan thai, điềm đạm. Hình con trâu phía trước khoẻ mạnh, vạm vỡ với đối sừng cong vút như mảnh trăng lưỡi liềm.

 

 

 

Hình ảnh con Trâu sắc nét trên bia Tiến sĩ khoa thi Quý Mùi, niên hiệu Phúc Thái 1 (1643)

 

         Bức phù điêu gợi nhớ đến câu ca xưa “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Mảng chạm khắc hoạ các vị quan, con trâu, cái cày (phía sau) cũng gợi nhớ đến Lễ tế Thần Nông và nghi thức cày ruộng Tịch Điền ngày xưa. Nghi lễ này thường diễn ra vào dịp đầu xuân, do nhà vua đích thân làm lễ và cày ruộng, Triều đình rất coi trọng nghi lễ này để mong một năm mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, cuộc sống người dân được ấm no, hạnh phúc.

Vị trí mảng chạm khắc con Trâu trên bia Tiến sĩ khoa thi Quý Mùi, niên hiệu Phúc Thái 1 (1643)

 

         Hình ảnh con Trâu xuât hiện trên bia Tiến sĩ phải chăng cũng thể hiện khát vọng ấm no, an lành đến cho con người. Đó cũng là nhiệm vụ, trọng trách của kẻ sĩ phải biết mang đức hạnh, tài năng giúp nước, xây dựng quê hương giàu đẹp.

 

         Tết Tân Sửu năm nay đất trời ấm áp, cây cỏ đơm hoa như báo hiệu một năm mới khởi sắc. Dẫu cho dịch bệnh Covid-19 vẫn còn đang diễn biến phức tạp nhưng nhất định sẽ vượt qua. Tân Sửu – chú “Trâu vàng” mang lại một sức vóc mới, khoẻ khoắn và sung túc. Văn Miếu – Quốc Tử Giám với những giá trị lịch sử văn hoá bền vững, sừng sững và linh thiêng, sẽ tiếp bước mạnh mẽ, vững chãi như biểu tượng của chú “Trâu vàng” trong năm Tân Sửu – 2021.

AV


CHIÊM NGƯỠNG HÌNH ẢNH RỒNG TRÊN TRÁN BIA TIẾN SĨ

 

         Hình rồng trang trí trên bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám là một loại hình chạm khắc, trang trí mỹ thuật độc đáo. Đề tài rồng được chọn để trang trí trán bia là hình hai rồng chầu vầng nhật nguyệt. Nhật nguyệt tượng trưng cho nguồn sáng (trí tuệ) vĩnh cửu. Hai con rồng chầu vào nhật nguyệt muốn thể hiện sự hưng thịnh và phát triển của trí tuệ.

 

         Trong 82 tấm bia Tiến sĩ tại Di tích có tới 46 tấm bia được trang trí hình rồng ở nhiều kiểu dáng, vô cùng sinh động. Bia Tiến sĩ được dựng từ năm 1484, nhưng hình rồng chạm khắc trên trán bia lại xuất hiện muộn hơn. Phải đến tấm bia tiến sĩ khoa thi năm Ất Sửu, niên hiệu Chính Trị 8 (1565) mới xuất hiện hình rồng trang trí trên trán bia.

 

         Phân loại từ hình thể, hình rồng trên trán bia có hai loại: “Rồng thức” và “Rồng hóa mây”. “Rồng thức” là hình rồng uốn khúc từ trên vòng xuống, vi vảy được chạm rõ, đầu rồng ngẩng cao, râu tóc uốn lượn, thần thái dũng mãnh chầu vào vầng nhật nguyệt với các tia sáng xung quanh. Đặc biệt rồng được tạo tác chỉ có 3 móng. Qua thống kê chỉ có 15 tấm bia xuất hiện hình ảnh này.

 

 

(Ảnh: Thác bản bia Tiến sĩ khoa thi năm 1565 trán bia trang trí đề tài “Lưỡng long chầu nhật nguyệt”)

 

         Tuy nhiên trong 15 tấm bia đó, có tấm bia khoa thi năm 1607 lại xuất hiện loại “Rồng thức” khác. Đó là hình ảnh “Hai rồng tranh châu” (“Lưỡng long tranh châu”).

 

(Ảnh: Đề tài “Lưỡng long tranh châu” trang trí trên trán bia tiến sĩ năm 1607)

 

         Đề tài trang trí “Lương long tranh châu” xuất hiện trên trán bia khoa thi năm 1607.  Hình tượng hai con rồng là biểu tượng lực Âm - Dương cân bằng, hạt châu là biểu tượng của thái cực, là biểu tượng của vũ trụ. Hình ảnh hai con rồng được chạm khắc rõ nét, nhưng khô cứng, gai góc, khác với hình tượng rồng được chạm khắc trong cùng giai đoạn đó.

 

         Hình ảnh “Rồng hóa mây” lần đầu tiên xuất hiện trang trí trên trán bia tiến sĩ khoa thi năm 1656. Từ khoa thi này trờ về sau có 31 tấm bia sử dụng hình ảnh rồng hóa mây để trang trí trán bia. Vẫn là đề tài “Lưỡng long chầu nhật nguyệt”, chỉ khác là rồng được tạo hình từ những đám mây.

 

(Ảnh: Đề tài “Lưỡng long hóa mây chầu nhật nguyệt” trang trí trên trán bia tiến sĩ năm 1763)

 

          Nếu chỉ nhìn lướt qua, có thể tưởng rằng đó là những đám mây vây quanh vầng nhật nguyệt. Chỉ khi quan sát kĩ mới nhận thấy khối mây này là đầu rồng, khối mây kia là thân rống uốn khúc, tứ chi, vây tóc cũng được cách điệu từ những dải mây. Kiểu thức rồng hóa mây khiến cho linh vật rồng không có dáng vẻ uy nghi, đĩnh đạc như kiểu thức rồng được tạo tác trên bia thời kì trước đó mà uyển chuyển, bay lượn, biến hóa.

 

         Hình rồng trên bia Tiến sĩ đã được các nghệ nhân chạm khắc vô cùng sống động với nhiều hình dạng, dáng vẻ khác nhau. Con rồng từ trong tưởng tượng được chạm rất có hồn thành một con vật như có thật, có đời sống và một thế giới riêng. Trán bia được bố trí các khối, các mảng rất hài hòa, đường nét chạm tinh tế, gắn kết với tổng thể cả tấm bia như một bức tranh nghệ thuật chứa đựng nhiều ý nghĩa.

AV


BIA TIẾN SĨ TẠI VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM HÀ NỘI VỚI TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC DÒNG HỌ NGUYỄN HẠ YÊN QUYẾT

 

82 bia đá đề danh Tiến sĩ của các khoa thi từ 1442 đến 1779 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là những di vật quý giá và được xem như pho sử bằng đá về giáo dục Nho học Việt Nam, trải qua hơn 5 thế kỷ tồn tại cùng với những thăng trầm của lịch sử, cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.

Nội dung bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn ghi đầy đủ những thông tin cụ thể về khoa thi, số lượng thí sinh, tên, quê quán người thi đỗ, tên các quan coi thi, chấm thi,... Những thông tin này cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng quan về sự phát triển giáo dục thời Lê - Mạc. Qua thông tin trên các bia Tiến sĩ chúng ta thấy sự xuất hiện của nhiều làng khoa bảng, dòng họ khoa bảng. Trong số đó có dòng họ Nguyễn ở Hạ Yên Quyết, huyện Từ Liêm, nay thuộc phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội.

 

Khu vườn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội

 

Làng Hạ Yên Quyết (làng Cót) là một làng trong 4 làng nổi tiếng (Mỗ, La, Canh, Cót). Dòng họ Nguyễn là một trong những họ nổi tiếng ở Hạ Yên Quyết, đây là một dòng họ có truyền thống hiếu học từ lâu đời. Đến nay họ Nguyễn đã phát triển được hơn 20 đời trong gần 600 năm với rất nhiều danh nhân học cao, trí lớn, có đức, có tài, đã đem toàn bộ tài năng và trí tuệ của mình cống hiến cho đất nước, phục vụ nhân dân. Họ đều là những người đức độ, chính trực, thanh liêm, lập lên nhiều công lao lớn và được sử sách ghi lại. Dòng họ Nguyễn có tất cả 5 vị đỗ đại khoa, 30 vị đỗ Cử nhân, Tú tài.

Cụ thủy tổ của dòng họ là Nguyễn Như Uyên, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Sửu niên hiệu Quang Thuận 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, chưởng lục bộ, kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, Nhập thị kinh diên.

Đời thứ hai là Nguyễn Xuân Nham, cháu họ của Nguyễn Như Uyên, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Làm quan đến chức Thừa chính sứ.

Nguyễn Như Uyên và Nguyễn Xuân Nham đỗ các khoa thi năm 1469 và năm 1499. Hai khoa thi này theo Đại Việt sử ký toàn thư chép đều được dựng bia đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám song đã bị thất lạc, những bia này hoặc đã bị huỷ hoại, hoặc chuyển dịch thất lạc, bị vùi lấp đâu đó chưa phát hiện được.

Đến đời thứ ba là Nguyễn Khiêm Quang, cháu của Nguyễn Như Uyên, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên 2 (1523) đời Lê Cung Hoàng. Khoa Quang Thiệu 5 (1520) và 2 khoa đời Lê Cung Hoàng (Thống Nguyên 2 (1523) và Thống Nguyên 5 (1526), tức 3 khoa thi cuối cùng của đời Lê sơ thì không những đương thời mà cả về sau cũng chưa bao giờ được dựng bia. Vì thế mặc dù đỗ Tiến sĩ song tên ông không được khắc trên bia đặt tại Văn Miếu.

Đời thứ 5 là Nguyễn Nhật Tráng, cháu của Nguyễn Khiêm Quang, ông đỗ Hội nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Ất Mùi niên hiệu Quang Hưng 18 (1595) đời Lê Thế Tông. Bia Tiến sĩ năm 1595 đặt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám khắc tên ông: “Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân: Nguyễn Nhật Tráng: xã Yên Quyết Hạ, huyện Từ Liêm”.

Đời thứ 8 là Nguyễn Vinh Thịnh, cháu tằng tôn của Nguyễn Nhật Tráng, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ 2 (1659) đời vua Lê Thần Tông. Tên của ông được khắc trên văn Tiến sĩ khoa thi năm 1659 đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám: “Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân: Nguyễn Vinh Thịnh: xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm”.

82 bia Tiến sĩ là nguồn sử liệu hết sức quý giá, chúng ta có thể tìm được rất nhiều thông tin về lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, các giá trị triết lý, giá trị tư tưởng và quan điểm của người đương thời. Những tấm bia đá hiện vẫn còn ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám luôn nhắc nhở chúng ta về chính sách đối với nhân tài, đề cao, ca ngợi công trạng của các danh nhân với dân, với nước. Trong số 1304 vị Tiến sĩ được lưu danh trên bia Tiến sĩ nói chung và những vị Tiến sĩ của dòng họ Nguyễn ở Hạ Yên Quyết nói riêng, rất nhiều người đã trở thành những nhà hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục..., trở thành những vị quan công minh đem tài trí của mình giúp dân, giúp nước.

Bài và ảnh: Bạch Ngọc Minh


VỀ TẤM BIA KHOA THI NĂM MẬU TUẤT NIÊN HIỆU QUANG HƯNG THỨ 21 (1598)

TẠI VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM HÀ NỘI

 

Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi lưu giữ 82 tấm bia Tiến sĩ, những “Bảo vật quốc gia”, “Di sản Tư liệu Thế giới trên phạm vi toàn cầu” vô cùng ý nghĩa. Hệ thống bia Tiến sĩ đã trở thành những di sản vô giá của nền văn hóa dân. Trên bia có khắc họ tên và quê quán của 1304 vị Tiến sĩ thi đỗ dưới thời Lê - Mạc. Tấm bia Tiến sĩ khoa thi Mậu Tuất niên hiệu Quang Hưng thứ 21 (1598) có ghi họ tên quê quán của Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Duy Thì, một danh nhân có nhiều đóng góp cho đất nước.

 

Bia khoa thi năm Mậu Tuất (1598) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

 

 Bia khoa thi Mậu Tuất (1598) có chiều cao 167cm, chiều rộng phần sát đế bia 118cm, độ dày của bia 23cm. Đế bia cao 35cm, rộng 114cm, dài 162cm. Trên bia có 46 dòng khắc 1207 chữ Hán... Đế bia được tạo hình rùa chạm khắc sơ sài rùa cổ rụt, đầu bằng ngang, hai mắt lồi và sống mũi được tạc rõ, đầu nhỏ. Mai rùa hơi cong, trên mai có khắc hình lục giác, có một gờ nhỏ ở giữa chạy suốt sống lưng, gáy khớp dày hẳn lên.

Tiêu đề của tấm bia khoa thi năm Mậu Tuất (1598) viết theo thể chữ triện, thường dùng trong ấn tín của triều đình và nghệ thuật thư pháp, có giá trị nghệ thuật cao được viết và khắc bởi nhóm: Trung thư giám Nguyễn Quang Đắc và Triện thích thái thừa Quế Lan nam Nguyễn Quang Độ.

 Hoa văn trang trí xung quanh diềm bia là hoa sen, hoa cúc, hoa trà, hoa mẫu đơn chạm trổ cầu kỳ, có điểm thêm lá và hoa rất hài hòa. Chân diềm bia chạm hình cánh sen đều liên tiếp thành hàng dài, trên cánh có trang trí thêm các đường chỉ mảnh theo hình cánh hoa làm tăng thêm tính thẩm mỹ. Chỉnh thể của hoa văn ở diềm, chân diềm và chữ triện ở trên bia tạo thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo mang tính thẩm mỹ cao giúp các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu tìm hiểu sâu hơn về điêu khắc đá và mỹ thuật Việt Nam ở thế kỷ XVII.

Bài ký của tấm bia Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Tuất (1598) đã chỉ rõ đây là khoa thi thứ 2 dưới thời Lê Trung hưng. Bia cũng ghi lại đầy đủ thành phần của ban giám khảo là các vị đại thần đầu triều như: Đề điệu là Thái úy Ngạn quận công Trịnh Đỗ, Tri cống cử là Ngự sử đài Đô Ngự sử Lê Trạc Tú, Giám thí là Lễ bộ Tả Thị lang Ngô Tháo, Đại lý tự khanh Trần Phúc Hựu là quan độc quyển. Hoàng thượng đích thân định thứ tự cao thấp. Nho sinh Nguyễn Duy Thì đã phải đem hết tài học sở trường của mình chứng minh trước ban giám khảo, những người lỗi lạc, uyên thâm cả về kiến thức và kinh nghiệm. Ông đã vượt qua rất nhiều thí sinh để là 1 trong 5 người có tên trên bảng vàng, bia đá của kỳ thi Đình năm Mậu Tuất (1598).

Những người cùng được khắc tên trên bia với Nguyễn Duy Thì gồm: Nguyễn Thứ: người xã Bột Thái, huyện Hoằng Hóa; Lê Bật Tứ: người xã Cổ Định, huyện Nông Cống; Nguyễn Khắc Khoan: người xã An Khang, huyện Yên Phong; Nguyễn Giới (Kiệm): người xã Văn Lâm, huyện Nga Sơn.

Trong 5 vị Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Tuất (1598) duy nhất Nguyễn Duy Thì sau này trở thành Tế tửu Quốc Tử Giám đúng như quan điểm của nhà nước đã nêu ở bài ký khoa thi này “chọn người tốt mà làm thầy” sau nhiều năm giữ chức Tư nghiệp đến năm Dương Hòa 6 (1640), ông giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám phụ trách việc đào tạo giáo dục nhân tài cho đất nước.

Bia  khoa thi năm Mậu Tuất (1598) dựng vào ngày 16 tháng 11 năm Thịnh Đức thứ nhất (1653) sau khi Nguyễn Duy Thì thi đỗ 55 năm và qua đời được 2 năm. Hàn lâm viện Hiệu thảo Trịnh Cao Đệ  là người soạn bài ký. Người nhuận lại bài ký là Lễ Bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Dương Trí Trạch. Họ là những người nổi tiếng văn hay chữ tốt, có uy tín và kinh nghiệm được triều đình giao cho trọng trách soạn văn ký, nhuận sắc bài ký trên bia Tiến sĩ để lưu danh muôn thủa.

Bia Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Tuất (1598) là tấm bia ẩn chứa nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục. Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Duy Thì khắc tên trên bia lưu danh muôn thuở, hậu thế nhìn vào ngưỡng vọng, công trạng của ông luôn được người đời sau ghi nhớ. Một người hết lòng vì dân vì nước như ông được các thế hệ người Việt Nam tri ân và tưởng nhớ.

Tấm bia khoa thi Mậu Tuất (1598) là một di sản tư liệu quý, tác phẩm nghệ thuật độc đáo của nền văn hóa dân tộc hiện còn được lưu giữ tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội./.

 

Sưu tầm


82 BIA TIẾN SĨ – NGUỒN SỬ LIỆU QUÍ GIÁ VỀ

LỊCH SỬ GIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI QUÂN CHỦ

 

Ngày nay, khi đến thăm khu di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, du khách được chiêm ngưỡng khu vườn bia nơi lưu giữ 82 tấm bia Tiến sĩ. Bia Tiến sĩ được Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) xuống chiếu cho dựng để tôn vinh những người đỗ đạt. Trên các tấm bia có khắc họ tên, quê quán của 1304 vị Tiến sĩ đỗ trong các khoa thi được tổ chức từ 1442 đến 1779 dưới triều Lê và triều Mạc. Năm 2011, bia Tiến sĩ đã được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu Thế giới.

 

Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, việc dạy và học Nho học ở nước ta bắt đầu từ triều Lý, phát triển qua các triều đại Trần, Hồ, đặc biệt phát triển dưới triều Lê, kết quả đã đào tạo ra hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Câu nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn” khắc trên tấm bia của khoa thi năm 1442 luôn được coi là kim chỉ nam cho giáo dục của nhiều triều đại. Không chỉ thể hiện đường lối trọng dụng nhân tài, nội dung những bài ký trên bia còn là những bài học răn dạy, nhắc nhở trách nhiệm của những người đỗ đạt đối với đất nước: “kẻ sĩ được khắc tên vào tấm đá này, thật may mắn biết bao! nên phải đem lòng trung nghĩa tự hẹn với mình, làm sao danh và thực hợp nhau ” (Văn bia khoa thi 1487); và kẻ sĩ trên cơ sở đó “hãy làm mây lành sao tỏ nêu điểm tốt cho đời, làm ngọc sáng vàng ròng để làm kho báu cho nước” (Văn bia khoa thi 1514); hoặc “thảng hoặc có kẻ mượn khoa danh để làm kế ấm no, mượn đường ấy để được giới sĩ hoạn kính trọng, người đời sau tất sẽ nhìn vào họ tên mà nói: kẻ kia là hạng tiểu nhân gian tà, làm xấu lây cho khoa mục” (Văn bia khoa thi 1577).

Ngoài ra, 82 tấm bia Tiến sĩ còn cho biết những thông tin rất cụ thể về các khoa thi, số lượng thí sinh, tên và quê quán người đỗ, tên các quan trông coi thi, chấm thi, ngày vào thi Đình, ngày yết bảng xướng danh…Căn cứ vào các thông tin đó, chúng ta có thể đánh giá về tình hình phát triển giáo dục triều Lê và triều Mạc.

Số liệu thí sinh tham dự các khoa thi Hội trung bình một năm hàng nghìn và gia tăng mạnh mẽ cho thấy sự quan tâm đến giáo dục của Nhà nước cũng như của xã hội. Nếu như trong khoa thi năm 1442 chỉ có 450 người dự thi thì khoa thi ngay năm sau đó (1448) đã có tới 750 thí sinh tham dự; đến khoa thi năm 1475 đạt con số về số lượng thí sinh là 3000 người và kỉ lục cao nhất là khoa thi năm 1640 với 6000 thí sinh tham dự.

Tuy nhiên, không vì số lượng thí sinh dự thi đông mà yêu cầu về chất lượng của thí sinh bị xem nhẹ. Cũng qua số liệu ghi trên bia Tiến sĩ cho biết: số lượng Tiến sĩ lấy đỗ trong một khoa thi nhiều nhất là 62 người (khoa thi 1478), và ít nhất có những khoa cả nước chỉ lấy đỗ có 3 người (khoa thi năm 1592, 1667).

Trên những tấm bia Tiến sĩ, truyền thống hiếu học còn được thể hiện qua những thông tin rất thú vị. Đó là sự xuất hiện của những làng khoa bảng, dòng họ Tiến sĩ hiển thị dưới danh sách của các Tiến sĩ đỗ đạt. Đơn cử, làng Mộ Trạch tỉnh Hải Dương có tới 25/36 vị Tiến sĩ có tên trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu. Các dòng họ nổi tiếng như dòng họ Ngô, họ Hà, họ Vũ... cũng có rất nhiều người đỗ Tiến sĩ, được ghi danh trên bia. Nhiều trường hợp cả cha con, anh em cùng được khắc tên lên bia (anh em Hà Sỹ Vọng, Hà Nhân Đại, cha con Ngô Thì Sỹ, Ngô Thì Nhậm...).

Trong số 1304 nhà khoa bảng được lưu danh trên bia Tiến sĩ, nhiều người sau này đã trở thành những nhà hoạt động chính trị xã hội, nhà văn hóa nổi tiếng có nhiều tác phẩm có giá trị để lại cho hậu thế như: Ngô Sỹ Liên, Lương Thế Vinh, Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhậm...Như vậy, 82 tấm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đó phản ánh sinh động lịch sử giáo dục của đất nước ta từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18. Đến tham quan vườn bia Tiến sĩ với 82 tấm bia đã được công nhận là Bảo vật quốc gia, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, tôn trọng nhân tài của cha ông ./.

N.H


BIA TIẾN SĨ – DI SẢN TƯ LIỆU THẾ GIỚI

Tháng 5-2011, UNESCO công nhận Bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội là Di sản Tư liệu thế giới trong Danh mục ký ức thế giới toàn cầu. Ngày 14-1-2015, 82 bia Tiến sĩ được công nhận là Bảo vật Quốc gia.

Năm 1484 Hoàng đế Lê Thánh Tông (1460-1497) khởi xướng việc lập bia đề danh Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám thể hiện tinh thần đề cao Nho học, trọng hiền tài.

 

Khu vườn bia Tiến sĩ bên Tây

 

Hai bên giếng Thiên Quang là 82 tấm Bia Đề danh Tiến sĩ cho 82 khoa thi Tiến sĩ (từ năm 1442 đến năm 1779) đến nay vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn. Trên 82 tấm bia đề danh này khắc tên 1304 vị Tiến sĩ. Bia Tiến sĩ đã trở thành Di sản tư liệu thế giới bởi chứa đựng bề dày những giá trị văn hóa.

Tính nguyên vẹn và độc đáo

82 bia đá về các khoa thi Tiến sĩ (1442-1779) là những bản gốc duy nhất còn ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội. Trên bia lữu giữ những nét độc đáo về văn tự và nghệ thuật điêu khắc nguyên bản của thời kỳ tạo dựng bia. Đây là những bằng chứng có giá trị về văn bản học khi nghiên cứu mối tương quan đồng đại và lịch đại của lịch sử văn hoá Việt Nam. 82 bia đá về các khoa thi Tiến sĩ trong hơn 300 năm (1442 - 1779) là những trang sử đá về lịch sử văn hoá - giáo dục Việt Nam đến nay vẫn còn được bảo quản khá nguyên vẹn.

82 bia đá là nguồn sử liệu vô cùng quý giá giúp chúng ta nghiên cứu về con người và sự nghiệp của nhiều danh nhân văn hoá Việt Nam, góp phần bổ sung cho thư tịch đăng khoa lục viết bằng chữ Hán của Việt Nam. Tên một số danh nhân trên bia như: Nguyễn Trãi (với tư cách là quan chấm thi (độc quyển) được ghi trong bia khoa thi năm 1442, khắc năm 1448). Tên của những người thi đỗ trở thành những nhân vật tiêu biểu như: Nguyễn Trực, Ngô Sĩ Liên, Lương Thế Vinh, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Bá Lân, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm…

Giá trị tư liệu phong phú

Nội dung 82 văn bia được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau: lịch sử, văn hoá, giáo dục, triết học, pháp luật, ngôn ngữ văn tự đương thời…

Nội dung bi ký khẳng định vai trò của Nho giáo trong đời sống tư tưởng, chính trị của nhân dân. 82 bài văn bia tập trung ca ngợi vai trò của nho giáo trong đời sống chính trị xã hội, ca ngợi chế độ quân chủ tập quyền và đề cao nhà vua. Chế độ đương thời trọng dụng nhân tài, coi “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, là nguồn gốc sự hưng thịnh của đất nước. Trên tấm bia đầu tiên được khắc cho khoa thi Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442), Đại học sỹ Thân Nhân Trung đã viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu  mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia là công việc trước nhất”. Quan điểm này luôn được nhắc đi nhắc lại trong 81 bài văn bia còn lại.

Bia Tiến sĩ còn là những tư liệu rất có giá trị góp phần nghiên cứu lịch sử khoa cử Việt Nam, như: Chế độ thi cử, có quy định niên khoá thi (cứ 3 năm thi Tiến sĩ 1 lần. Tên gọi các khoa thi (Hội, Đình). Cách gọi các thứ bậc những người đỗ Tiến sĩ được quy định rõ ràng (trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoá, hoàng giáp, tiến sĩ).

Khối di sản 82 bia Tiến sĩ dựng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội còn cho chúng ta hiểu được một vấn đề quan trọng khác là ý nghĩa giáo dục nhân cách con người, thông qua việc lập bia và khắc đá đề tên, nhắc nhở những người thi đỗ Tiến sĩ phải sống sao có ích với xã tắc, làm sao cho xứng danh kẻ sỹ, thì được hưởng ơn vua lộc nước, khi được người dân kì vọng.

82 bia đá đều được khắc bằng chữ Hán. Đây là những mẫu tự quan trọng, giúp cho việc nghiên cứu lịch sử phát triển chữ Hán từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII tại Việt Nam. Hàng chữ khắc niên đại tổ chức khoa thi của văn bia theo lối viết chữ Triện thư, một thể chữ của Trung Quốc hình thành thời Chiến Quốc (480 - 221 TCN) và ngày nay ít được sử dụng. Với 82 bia đá Tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám có thể coi là những tư liệu nguyên bản, phản ánh truyền thống sáng tạo về Thư pháp học ở Việt Nam. Bia Đề danh Tiến sĩ bi kí ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám có niên đại sớm nhất Việt Nam của thể loại này.

Đa dạng hình thức và phong cách

82 Bia đề danh Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám được dựng trong 3 giai đoạn với 3 phong cách chính rõ nét của các thời Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng.

Bia loại 1 có 14 tấm (từ khoa thi 1442 - 1529) có giá trị nghệ thuật lớn và đã xác lập vững chắc cho đời sau: hình ảnh “rùa đội bia Tiến sĩ”. Trán bia bé hẹp, phần đế (rùa) và phần thân hài hòa. Rùa được tạo tác tinh tế, dáng vẻ mềm mại, khoan hòa, trang nghiêm thể hiện cốt cách của kẻ sĩ. Trên bia của giai đoạn này chưa xuất hiện hình ảnh rồng.

 

Hàng chữ Triện dưới trán bia khắc chữ "Bia đề danh Tiến sĩ  khoa Kỷ Sửu niên hiệu Quang Hưng 12" (năm1589)

 

Bia loại 2 có 25 tấm bia (từ khoa thi 1554 đến khoa thi 1652). Bia giai đoạn này cho thấy kĩ nghệ chạm khắc đạt đỉnh cao. Nét độc đáo của họa tiết trang trí càng tôn cao ẩn ý sâu xa cho từng bài ký răn dạy. Giai đoạn này cũng là giai đoạn bùng nổ các đồ án trang trí, xuất hiện hình ảnh của rồng uy nghi và trang trọng, cùng các linh vật như Nghê, Kì lân, Phượng… cùng với đó là các đề tài trang trí dân gian, muông thú, chim chóc, con người; hoa lá xuất hiện đa dạng hơn với tùng, mai, cúc, trúc, lan, lựu v.v.

Bia loại 3 gồm 43 tấm dựng năm 1713 đến năm 1780, trong đó có 21 tấm được dựng năm 1717 (từ khoa thi 1656 - 1715). Bia giai đoạn này khá to lớn. Ở giai đoạn này bia được chú trọng chạm khắc phần chữ sao cho rõ nét, đẹp mắt. Phần trán bia, diềm bia, rùa cũng không còn là ưu điểm nổi trội. Rồng nguyên thể và các loại linh thú khác tuyệt nhiên không còn xuất hiện trong gia đoạn này.                                              

 

Rùa đội bia Tiến sĩ khoa thi năm 1448

 

Bia ghi danh tiến sĩ được dựng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi linh thiêng, cổ kính, ghi dấu nhiều sự kiện chính trị, văn hoá khoa học. Chính sách phát triển giáo dục, trọng dụng nhân tài, đào tạo nguồn lực cho đất nước là một chính sách quan trọng đối với bất kỳ thời đại nào để xây dựng và phát triển quốc gia cường thịnh - có thể đọc / và học được điều đó qua 82 tấm bia Di sản tư liệu thế giới ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội./.

                                                                                                          Anh Vân


GIÁ TRỊ BIA TIẾN SĨ

82 bia Tiến sĩ là những di vật giá trị bậc nhất của di tích Văn Miếu- Quốc Tử Giám, niềm tự hào của nền văn hóa giáo dục dân tộc đã tạo nên và lưu giữ được một pho “sử đá” có giá trị về nhiều mặt.

 

Vuon bia bên đông

 

1.       Giá trị lịch sử

Nội dung những bài văn bia do phải tuân theo khuôn khổ, nội dung nhất định nên không tránh khỏi nhiều đoạn trùng lặp. Nhưng qua pho “sử đá” đồ sộ đó có thể thấy được quan điểm về giáo dục thời phong kiến được nói đến nhiều lần trong mục đích dựng bia đồng thời cho biết sự “náo nhiệt” của không khí học hành thi cử, họ tên của các bậc danh nho và các địa phương, các dòng họ có truyền thống khoa bảng.

Bia Tiến sĩ cho biết số người dự thi. Khoa 1442 có 450 người, khoa 1448 có 750 người, khoa 1463 có 1400 người, khoa 1466 có 1100 người, 1475 có 3000 người, khoa 1481 có 2000 người, khoa 1514 có 5700 người, khoa 1640 có 6000 người dự thi… Qua đó có thể thấy được số người đi học đậu thi Hương để vào thi Hội, thi Đình đông đến mức nào và cũng chứng tỏ việc học hành giáo dục của thời Lê phát triển rất cao.

Nhưng chẳng ai đi thi đều đỗ và đỗ cao cả. Với số lượng thí sinh đông như vậy mà có khoa thi chỉ lấy đỗ có 3 người (khoa Đinh Mùi niên hiệu Cảnh Trị 2 - 1667) và nhiều nhất là 62 người (khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9 – 1478).

 Các vị tân khoa sau khi thi đỗ được ban hưởng mọi ân huệ của nhà vua, nào mũ áo cân đai triều phục, nào ngựa quý cờ quạt nghi trượng phường trống vinh quy bái tổ, bổ dụng quan chức trong triều ngoài phủ…ngần ấy thứ vẫn chưa đủ, lại còn khắc đá đề tên đặt nơi cửa hiền tài khiến cho kẻ sĩ phu trông vào mà sinh lòng hâm mộ phấn chấn, tự biết rèn luyện lấy danh tiết. Người được khắc tên lên bia đá đầu tiên là Trạng nguyên Nguyễn Trực người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai (nay thuộc thôn Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây) đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời Lê Thái Tông, làm quan chức Thủ trung thư lệnh, Tri tam quán sự, đại liên ban đặc thụ, Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, từng đi sứ nhà Minh. Ông là văn thần được Lê Thánh Tông rất kính trọng, thơ văn của ông sáng tác phần nhiều đều cho đưa đến để ông nhận xét, bình luận. Tác phẩm Bối Khê thi tập hiện chỉ còn 6 bài thơ chữ Hán chép trong Toàn Việt thi lục. Người cuối cùng được ghi tên lên bia đá là Tiến sĩ Phan Huy Ôn người xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Nghệ An) khoa thi Kỷ Hợi (1779) và cũng là khoa thi cuối cùng được dựng bia tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám, Hà Nội.

Qua văn bia còn có tìm thấy tên họ của nhiều vị đã từng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các sách sử Việt Nam đồng thời cũng là những người có công lao lớn đối với nước với dân như Nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Tiến sĩ năm 1442, người xã Chúc Sơn, huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây) đã soạn bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư gồm 15 bộ. Hoàn chỉnh bộ sách này là nhà bác học Lê Quý Đôn người xã Diên Hà, huyện Diên Hà, tỉnh Thái Bình, đậu Bảng nhãn khoa thi 1752. Ông viết rất nhiều tác phẩm như: Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục, Vân đài loại ngữ… bao gồm các mặt chính trị, triết học, quân sự, kinh tế, xã hội, lịch sử, thơ ca.. Ông là một nhà học thuật tài năng lỗi lạc. Ngô Thì Nhậm, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội, đỗ Tiến sĩ khoa 1775, là nhà chính trị, ngoại giao lỗi lạc, đã giúp vua Quang Trung - Nguyễn Huệ chiến thắng quân Thanh trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa lừng danh trong lịch sử. Ông là con của Ngô Thì Sĩ đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1766, cha con cùng đỗ đạt và làm quan một triều.

Truyền thống hiếu học còn thể hiện ở dòng họ khoa bảng, một xã một huyện có nhiều người đỗ đạt cùng được khắc tên, quê quán trên bia Tiến sĩ.

Nói đến truyền thống hiếu học khoa bảng phải nhắc đến Kinh Bắc. Với một vùng đất màu mỡ có sông Đuống, sông Cầu…chảy qua, bên cạnh những làn điệu quan họ, tranh vẽ Đông Hồ… là danh sách của hơn 430 vị đỗ đại khoa gồm có 15 Trạng nguyên, trong đó có Lê Văn Thịnh người làng Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh), 15 Bảng nhãn, 19 Thám hoa, 90 Hoàng giáp và 291 Tiến sĩ, 10 Phó bảng, 98 vị được ghi tên lên bia đá dựng tại khu di tích Văn Miếu- Quốc Tử Giám.

Xã Mộ Trạch, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương cũng nổi tiếng khoa bảng, có 30 Tiến sĩ. Dòng họ Thân Nhân Trung ở xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang mấy đời liền đỗ đại khoa, đều cùng làm quan một triều. Thân Nhân Trung đỗ Tiến sĩ năm 1469, làm quan Lại bộ Thượng thư Chưởng Hàn lâm viện kiêm Đông các Đại học sĩ, con là Nhân Vũ, Tiến sĩ năm 1481, và Nhân Tín, Tiến sĩ năm 1490, cháu ông là Thân Cảnh Vân, Thám hoa năm 1487.

Dòng họ Ngô xã Vọng Nguyệt, huyện Yên Phong 5 đời liền đỗ đại khoa: Ngô Nhân Triệt đỗ Tiến sĩ năm 1608 là cháu của Ngô Ngọc (Hoàng giáp 1487) và Ngô Hải (Hoàng giáp 1508) là con của Ngô Trừng (Hoàng giáp 1508), là cha của Nhân Tuấn (Tiến sĩ 1640).

Dòng họ Nguyễn xã Vân Điềm, huyện Đông Ngàn có Nguyễn Thực đỗ Hoàng giáp 1595 làm quan Tán trị công thần Tham tụng Lại Bộ thượng thư Chưởng Hàn lâm viện sự kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Lan quận công, là cha của Nguyễn Nghi (Tiến sĩ 1620), tằng tổ của Nguyễn Khuê, Nguyễn Sĩ (Tiến sĩ 1670), cao cao tổ của Nguyễn Thẩm (Tiến sĩ 1760) và Nguyễn Thưởng (Tiến sĩ 1754).

Những dòng họ, xã có nhiều vị đỗ đạt cao đã tạo nên truyền thống hiếu học của địa phương.

2. Giá trị mỹ thuật của bia Tiến sĩ

82 tấm bia Tiến sĩ là 82 phong cách điêu khắc, nhưng có thể chia làm 3 loại theo thời gian dựng bia và đặc trưng nghệ thuật của bia:

Loại I: Gồm các bia dựng từ năm Hồng Đức thứ 15 (1484) đến năm Đại Chính thứ 7 (1536)

Loại II: Gồm các bia dựng cùng một năm Thịnh Đức thứ nhất (1653)

Loại III: Gồm các bia dựng từ năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1717) đến năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780)

Theo nhiều nhà nghiên cứu đánh giá trong số 82 bia còn lại đến nay, có 25 bia loại II là những bia có nghệ thuật trang trí tiêu biểu, là những sản phẩm văn hóa quý giá nhất trong kho tàng sản phẩm văn hóa còn lại ngày nay ở Văn Miếu Hà Nội

 

Trán, diềm bia khoa thi 1589

 

a) Về hình dáng bia: Loại II đều cao to hơn loại I, thường cao từ 155cm đến  170cm, rộng từ 110cm đến 125cm và dày từ 20cm đến 30cm. Hình dáng của trán bia cong vút lên gần với hình bán nguyệt chứ không thấp bé như loại trước nữa.

b) Về nghệ thuật tạo rùa: Ở bia loại I thời Hồng Đức được thể hiện bằng những khối tròn, trơn nhẵn, đường nét tinh tế. Nhưng rùa loại II lại chỉ phác họa bằng những khối vuông, góc cạnh, đường nét đơn giản, dứt khoát. Rùa ở loại II cổ rụt, đầu chếch hoặc bằng ngang, mặt bẹt, sống mũi nở cao, thẳng, mắt tròn, nhỏ, lồi và sát gần nhau, hai hốc mày và toàn bộ trán đều nổi cao gắn liền với sống mũi, tạo nên một đường gần giống với chữ T; miệng rộng cong hình cung, không có răng nanh, mai cong đều có một gờ nhỏ ở giữa chạy giữa suốt sống lưng, vai rùa không rằn xuống mà gần như vuông hẳn lại, gáy có khớp dày và chân tạc sơ sài.

c) Về nghệ thuật trang trí trên bia: Trước hết hãy xem xét việc trang trí trên các trán bia, nơi vốn được coi là chỗ trang trọng nhất của một tấm bia. Ở đây chủ yếu đều chọn đề tài hai rồng chầu mặt nguyệt. Cách bố cục mang nhiều nét đẹp của loại đề tài này là cách bố cục hình rồng uốn khúc từ trên vòng xuống, đầu quay ngẩng lên trong tư thế rất khỏe. Đầu rổng ngẩng cao, mặt nghiêm chỉnh hướng về phía các viên ngọc đang bay lơ lửng trong viền mây lửa của mặt nguyệt. Thân rồng cuộn khúc vòng ngược trở lên, đuôi lượn sóng chạy song song với diềm bia. Hình rồng ở đây có dáng mập, thân nổi lên cuồn cuộn với những hình khối tròn, chắc nịnh và đường chạm sâu. Đặc điểm của hình rồng này là : Đầu to, trán tròn, mũi cũng rất to và phồng cao, mồm rộng có răng nhọn và đặc biệt có răng nanh mọc dài ra ngoài, mắt nhỏ có viền lông mày hình mây lửa, hai râu chảy từ mắt xuống vòng dài ra phía sau, gáy có bờm ngắn và trên đó là đôi sừng nhỏ, toàn thân có vảy, được viền bằng một lớp vây sắc, càng về cuối càng to. Đây là một loại rồng mang nhiều đặc trưng của những hình rồng đầu thế kỷ 17 nói chung.

 

Diềm bia

Một thể loại khác là trán bia có hình phượng chầu mặt nguyệt. Hai bên mặt nguyệt là hai hình chim phượng to lớn xòe rộng cánh trong tư thế đang bay.

Nghệ thuật chạm khắc trên các bia loại II nhìn chung đã đạt đến một trình độ tinh xảo. Về bố cục điểm chung là tính cân xứng đăng đối. Tính sinh động đa dạng của bố cục cũng là một đặc điểm nổi bật trên các trang trí của diềm bia. Nghệ nhân không chịu gò bó trong một vài hình mẫu khác biệt nhau.


QUÁ TRÌNH DỰNG BIA TIẾN SĨ

 

Từ năm 1442 đến năm 1787 dưới triều Lê đã tổ chức được 124 khoa thi Tiến sĩ. Nhưng hiện nay ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám chỉ có lưu giữ 82 tấm bia được xếp thành 2 khu vực Đông, Tây bên giếng Thiên Quang, mỗi bên 41 bia dựng thành 2 hàng. Cách sắp xếp bia không theo thứ tự thời gian, triều đại, hoặc kích cỡ lớn nhỏ mà đan xen lẫn nhau. Nhà che bia lúc đầu đã có và được tu sửa nhiều lần nhưng đến cuối thế kỷ XVIII bị tàn phá hết. Đến năm 1994 mới được làm lại.

Nhà bia Tiến sĩ bên Tây

Về chủ trương, bia được dựng sau mỗi kỳ thi nhưng không mấy khi được dựng ngay mà làm tập trung vào từng đợt.

- Đợt 1: Năm 1484 dựng 10 bia cho các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1484.

- Đợt 2: Năm 1653 dựng 25 bia cho các khoa từ năm 1554 đến năm 1652.

- Đợt 3: Năm 1717 dựng 21 bia cho các khoa từ năm 1656 đến năm 1712.

Còn 26 bia được dựng ngay sau các khoa thi.

Lễ dựng bia Tiến sĩ đầu tiên được tổ chức trọng thể ngày rằm tháng Tám, năm Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15(đời Lê Thánh Tông) được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư: “ Vua cho là từ năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông (năm sinh vua Lê Thánh Tông) đến giờ việc dựng bia đề tên Tiến sĩ các khoa vẫn chưa làm được, sai Lễ bộ Thượng thư Quách Đình Bảo biên rõ họ tên, thứ bậc các Tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất Đại Bảo thứ 3, khoa Mậu Thìn năm Thái Hòa thứ 6, khoa Quý Mùi năm Quang Thuận thứ 4, khoa Bính Tuất năm thứ 7, khoa Kỷ Sửu năm thứ 10, khoa Mậu Thìn năm Hồng Đức thứ 3, khoa Ất Mùi năm thứ 6, khoa Mậu Tuất năm thứ 9, khoa Tân Sửu năm thứ 12, khoa Giáp Thìn năm nay (1484) khắc vào đá”.

 

Bia Tiến sĩ

 

Khu vườn bia Tiến sĩ 

Theo sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776 thì lúc đó có 124 khoa thi Tiến sĩ nhưng nay chỉ còn 82 bia. Như vậy 42 khoa thi có bao nhiêu khoa không được dựng bia, bao nhiêu khoa có dựng nhưng đã mất?

Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì 9 khoa thi những năm 1469, 1472, 1484,  1490,1493, 1499, 1505, 1508 và 1634 đều được dựng bia nhưng nay không thấy có.


BIA TIẾN SĨ TẠI VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM

Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám hiện nay còn lưu giữ được 82 tấm bia Tiến sĩ, trên đó khắc ghi họ tên và quê quán của 1307 lượt người  đỗ của 82 khoa thi được tổ chức dưới triều Lê- Mạc (1442-1779). Bia Tiến sĩ được khởi dựng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám vào năm 1484 dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497).

Sự kiện này được Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau: "Năm Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484)... Mùa thu, tháng 8, ngày 15, dựng bia có bài ký ghi tên các Tiến sĩ từ khoa NhâmTuất năm Đại Bảo thứ 3 (1442) đời vua Thái Tông triều ta đến nay…". Đây là sự kiện đặc biệt, tạo thêm giá trị tinh thần lớn lao cho Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

82 tấm bia hiện còn tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám được dựng trong thời gian gần 300 năm, từ 1484 đến 1780. Mỗi tấm bia được dựng cho một khoa thi. Bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – QuốcTử Giám được dựng trong nhiều đợt khác nhau. Năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng cho 10 tấm bia các khoa thi tiến sĩ được tổ chức từ 1442 đến 1484. Hiện chỉ còn 7 bia. Sau đó từ 1487 đến năm 1529 có 5 tấm bia được dựng vào các năm1487, 1496, 1513, 1521, 1529 và 2 tấm bia được dựng vào năm 1536 thuộc triều Mạc. Đợt dựng bia nhiều nhất vào năm 1653, với 25 tấm bia được dựng cho các khoa thi từ năm 1554 đến 1653. Đợt dựng bia thứ 3 vào năm 1717 với 21 bia cho các khoa thi được  tổ chức từ năm 1656 đến 1717. 22 tấm bia còn lại được dựng trong thời gian từ năm 1721 đến 1780. Tấm bia cuối cùng được dựng vào năm 1780 cho khoa thi năm 1779.

Bia Tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám do các nghệ nhân, nhà khoa bảng nổi tiếng đương thời tạo tác. Tất cả 82 bia Tiến sĩ hiện còn ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám đều được chế tác theo cùng một phong cách, thuộc loại bia dẹt, gồm 2 phần: Bia và đế bia.

+ Bia: Được chia làm 2 phần chính gồm:

- Trán bia: Trán bia hình vòm, khắc các họa tiết trang trí, bờ mi trán bia có tiêu đề bia, thường viết theo lối chữ triện.

- Thân bia: Thân bia bình chữ nhật, hai bên diềm bia và chân bia trang trí hoa văn, lòng bia khắc bài văn bia bằng chữ Hán cổ gồm bài ký, danh sách các vị đỗ Tiến sĩ, cuối cùng là họ tên, chức vụ của người soạn văn bia, người nhuận sắc, người viết chữ, năm dựng bia.

+ Đế bia: Đế bia được tạo dáng hình rùa với những đặc điểm nghệ thuật trang trí khác nhau. Đế bia hình rùa thể hiện sự trường tồn, bền vững của hiền tài, giáo dục và của bia Tiến sĩ.

Bia có kích thước to nhỏ khác nhau. Những bia được dựng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI có kích thước nhỏ bé, càng về sau kích thước bia càng lớn. Hình thức trang trí phong phú trải qua các giai đoạn phát triển gần 300 năm. Tấm bia lớn nhất cao 1,75m (chưa kể đế bia) rộng 1,3m, còn tấm bia nhỏ nhất cao 1,1m, rộng 0,7m,độ dày của bia trung bình là 0,25m. Hình trang trí trên bia cũng vậy. Giai đoạn thế kỷ XV-XVI, hình trang trí đơn giản, nghèo nàn, trán bia chỉ có hình mặt trời, mây xoắn. Diềm bia chủ yếu trang trí hoa dây. Sang thế kỷ XVII-XVIII,hình trang trí trên bia rất phong phú. Trán bia trang trí các hình rồng, phượng, mặt nguyệt. Diềm bia trang trí các hình hoa lá, hình người, thú, chim hết sức sinh động.

Trang trí trên bia đa dạng, phản ánh sự phát triển hình tượng nghệ thuật theo thời gian. Mỗi tấm bialà một tác phẩm nghệ thuật độc đáo bởi chúng là kết tinh trí tuệ, bàn tay khéoléo của những nhà văn hoá, thư pháp, nghệ nhân hàng đầu Việt Nam qua các thời kỳ và được làm hoàn toàn thủ công.

Giá trị đặc biệt của biaTiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám chính là bài văn bia bằng chữ Hán. Nội dungvăn bia ghi về khoa thi Tiến sĩ được dựng bia. Mỗi bài văn bia thường có 2 phần: phần ký và phần ghi danh sách những người  đỗ của khoa thi theo thứ tự từ cao đến thấp: Đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, đệ tam giáp... Phần ký của văn bia cung cấp nhiều thông tin quan trọng về lịch sử của nền giáo dục, thi cử nước nhà và quan điểm của nhà nước về đào tạo và sử dụng nhân tài. Tư tưởng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” đã được thể hiện rõ trong nội dung các bài văn bia với ý nghĩa:

-Vạch ra được lối chiến lược cho các nhà cầm quyền (xưa và nay) trong quản lý và xây dựng đất nước là phải coi trọng nhân tài.

-Xác định và định hướng rõ trách nhiệm của các nhà trí thức đối với đất nước, đó là: Đem tài năng ra phục vụ đất nước, đào tạo đội ngũ nhân tài kế tiếp cho đất nước.

Những bài ký trên bia là kết tinh trí tuệ của nhiều thế hệ trí thức, là kinh nghiệm về đạo làm người ,đạo trị quốc của dân tộc Việt Nam. Hơn thế, văn bia còn cho chúng ta biết những bài học vô giá về đạo trị quốc, xây dựng và phát triển đất nước luôn phải quan tâm, đào tạo nhân tài. Ngay từ bài ký soạn cho khoa thi đầu tiên được dựng bia, khoa thi năm Đại Bảo 3 (1442), Hàn lâm viện Thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung đã khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, hoặc “Sự lớn lao của nền chính trị bậc đế vương không gì quan trọng bằng việc trọng dụng nhân tài…”. (Bài ký khoa thi năm 1448). Trải qua thời gian, đường lối trị quốc dựa vào nhân tài luôn được khẳng định, và luôn đúng. Lễ bộ thương thư Đông các đại học sĩ kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu Lê Tung trong bài ký soạn cho khoa thi năm Hồng Thuận thứ 3(1511) viết: “Vua nào muốn có trị bình, ắt phải coi việc dùng hiền kén sĩ làm việc đầu tiên”“Đạo trị nước không gì quan trọng hơn nhân tài”. Ngay cả vào giai đoạn cuối của triều Lê Trung hưng, vai trò của nhân tài vẫn được nhắc đến “Nhân tài chính là cây trăn, cây hộ của nước nhà vậy” (bài ký khoa thi năm 1763).

Vai trò của hiền tài đối với quốc gia được khẳng định, nhắc đi nhắc lại trong hầu hết các bài ký, chothấy đây là một quốc sách, là điểm cốt lõi trong đạo trị quốc. Đây chính là bài học quý cho đương thời và hậu thế.

Để có được nhân tài thì phải chăm lo, gây dựng nhân tài. Cách thức gây dựng, thu hút nhân tài cũng được các bài ký chỉ ra, để từ đó làm cho đất nước hưng vượng.

Trước hết, để đào tạo nhân tài, thì nhà nước phải tạo điều kiện tốt cho việc dạy và học, cụ thể là phải xây dựng trường học, chọn thầy giỏi, tìm nhiều cách động viên khích lệ học trò: “Xuống chiếu cho các nơi trong nước dựng nhà học để bồi dưỡng nhân tài. Tại kinh đô có Quốc Tử Giám, ngoài phủ có học đường.. đặt thầy dạy dỗ, in kinh sách ban phát…”

Tuy nhiên, để có được hiền, tài thực, thì nhà nước phải tổ chức các khoa thi đích thực, những người  thi đỗ được trọng dụng, được vinh danh: “Nghĩ việc đặt khoa thi kén chọn kẽ sĩ là chính sự cần trước nhất…” (Bài ký bia Tiến sĩ khoa thi năm1442); Cách thức này thường xuyên được nhắc đi nhắc lại, đến nỗi có thể coi như là điều hiển nhiên, phải làm. Có đến 60/82 bài ký nói đến điều này: “Nhân tài cao thấp cốt do nơi khoa mục” hoặc“chọn kẻ sĩ phải do con đường khoa mục..” (Bài ký khoa thi năm 1703); “Nuôi dưỡng nhân tài ở trường học, dùng khoa mục để kén chọn kẻ sĩ…” (Bài ký khoa thi năm 1772)

Cách thức vinh danh,khuyến khích sĩ tử “sôi kinh nấu sử” để trở thành nhân tài rất đa dạng, là gợi ý, bài học của người  trước cho người sau trong trị quốc, dùng người  như miễn phu phen, lao dịch cho người  có thành tích trong học tập, thi cử; ghi tên Bảng vàng treo cổng kinh thành, cửa nhà Thái học, bổ nhiệm trọng trách, ban mũ áo, ghi tên vào sách đăng khoa lục…“Cốt để cho bọn cài hốt bên lưng, ra vào nơi cung điện, mắt nhìn,miệng đọc, bồi hồi, ngóng trông, kính mến mà ao ước. Đó là bộ máy để kích động lòng người  và là một việc hay có ý nghĩa trọng đạo của đời thịnh đối với nền chính trị và phong hoá quan hệ rất lớn ” (Văn bia Bia Tiến sĩ khoa thi năm1481).

Những bài ký trên bia cònchỉ ra những bài học, cách thức tu dưỡng để trở thành những con người  có ích cho quê hương, đất nước. Lẽ thường, khi đạt được mục đích, được vinh danh, người  ta thường sao nhãng việc rèn luyện, tu dưỡng;khi đã ở ngôi cao thường sinh lòng kiêu hoặc coi thường ngừời dưới. Thực tế, có người  đã mất hết ý chí phấn đấu, thậm chí sa ngã, đánh mất mình, đến khi sực tỉnh thì đã quá muộn. Những bài ký trên bia là những tâm sự, những lời khuyên, thậm chí cảnh báo rất kịp thời với nhữngngười  đang sống, và với thế hệ tiếp theo. Trước hết, dù đã thành đạt, đã được đề cao vẫn “phải trọng thân danh mình mà lo báo đáp”, phải làm việc sao cho đúng với sự đề cao, danh hiệu đó, để “danh đứng với thực”. Muốn làm được điều đó, người  làm quan phải tận tâm, tận lực lo cho dân, cho nước, phải biết “dâng mưu hay”, phải biết khẳng khái khuyên can việc tốt, “phải gắng rèn mài liêm cần, trau dồi tiết hạnh, cứng rắn như vàng ngọc,…làm việc phải đồng tâm hiệp lực, thờ vua thì phải giữ gìn chính đạo, …” (Văn bia khoa thi năm 1706);

Những lời khuyên về lối sống, tu dưỡng rất cụ thể, chân thành, bởi đó chính là kết tinh, trải nghiệmcủa người i viết, là tâm huyết đối với hậu thế, với giang sơn đất nước: “Theo hầu trong cung phải giúp đức cho vua, giúp ơn cho dân; trấn nhậm một phương phải làm bình phong phên dậu. Người giữ chức cao phải đem khả năng bàn nói để hết chức phận can gián của mình…” (Văn bia khoa thi năm 1691), “tuổi già tiết cứng, nêu gương cho phường hậu tiến, hun đúc nên tập tục trung tín liêm sĩ, chớ cậy may mắn lợi dụng vơ vét” (Văn bia khoa thi năm 1760).

Những bài học, kinh nghiệm sống cha ông, của thế hệ trí dũng, tài đức lưu lại trên đá được kiểm nghiệm, minh chứng qua thời gian, Những bài học đó vô cùng quý cho mọi thời đại, đặc biệt là hiện nay, khi đất nước đang trong thời kỳ thay đổi lớn trên mọi mặt, và nền giáo dục đang trải qua nhiều cải cách, thử nghiệm. Trong mọi hoàn cảnh, để phát triển bền vững đất nước, điều quan trọng nhất vẫn là đào tạo, bồi dưỡng được những con người  thực sự “hiền”, “tài”, những người  không chỉ lo cho thế hệ mình, mà còn nghĩ đến thế hệ sau, tương lai của đất nước.

Việc dựng bia Tiến sĩ đã tác động to lớn đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo nhân tài của đất nước. BiaTiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám còn có tác động xã hội to lớn đối với người  đương thời và hậu thế. Được ghi tên trên bia là niềm khích lệ lớn trong việc học tập, rèn luyện để trở thành người  có ích cho đất nước và xã hội. Bia Tiến sĩ cùng là biểu tượng và niềm tự hào của sự thành đạt và trí tuệ.

Ngày nay bia Tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám vẫn có sức hút mạnh mẽ đối với các học giả, du khách,chính khách trong và ngoài nước. Rất nhiều nguyên thủ quốc gia, chính kháchquan trọng của các nước trên thế giới đã đến đây và đánh giá cao giá trị và ý nghĩa của những tấm bia Tiến sĩ.

Tháng 3 năm 2010, Uỷ ban Ký ức thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã công nhận bia Tiến sĩ là Di sản tư liệu - Ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, và tháng 5 năm 2011, Tổng giám đốc UNESCO đã công nhận 82 bia Tiến sĩ là Di sản tư liệu và ghi vào danh mục Ký ức thế giới toàn cầu. Ngày 14 tháng 1 năm 2015, Thủ tướng chínhphủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã công nhận 82 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là Bảo vật quốc gia. Đây chính là sự đánh giá, công nhận giá trị đặc biệt của bia Tiến sĩ tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám đối với nền văn hóa, giáo dục của dân tộc Việt Nam nói riêng, của toàn nhân loại nói chung./.

Một số hình ảnh:

 

 

 

 



CÁC TIỆN ÍCH


THAM QUAN VĂN MIẾU

Tư vấn và lộ trình để lên kế hoạch tốt hơn cho chuyến thăm của bạn

Xem thêm

NỘI QUY THAM QUAN

Những vấn đề cần lưu ý khi tham quan

Xem thêm

FAQS

Những câu hỏi thường gặp

Xem thêm