RELICS

CÁC VỊ TẾ TỬU, TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM THĂNG LONG TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, GIÁO DỤC ĐẤT NƯỚC

 

Trong hơn 700 năm hoạt động từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XVIII, Quốc Tử Giám Thăng Long đã đào tạo, bảo cử ra một đội ngũ quan lại, trí thức Nho học đông đảo có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của Đất nước và Dân tộc. Các vị quan đứng đầu Quốc Tử Giám (Tế tửu, Tư nghiệp) đều là các bậc sĩ phu, tài cao, đức trọng được lựa chọn từ hàng ngũ các bậc danh Nho, đại thần có uy tín.

 Theo thống kê sơ bộ từ tài liệu chính sử và sắc phong, văn bia tại một số địa phương khoa bảng thì trong số 101 vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám Thăng Long (từ thế kỷ XIV đến thế thế kỷ XVIII), ngoài 5 vị chưa xác định được thân thế, còn lại toàn bộ 96 người đều có học vị Tiến sĩ (lưu danh trong Đăng khoa lục), trong đó có nhiều người giật giải Đình nguyên (Trạng nguyên Nguyễn Trực, Trịnh Tuệ, Bảng nhãn Lê Quí Đôn…). Đặc biệt, đại đa số các vị Tế tửu, Tư nghiệp đều từng giữ hoặc đang kiêm nhiệm các chức vụ quan trọng trong triều đình như: Hàn lâm viện Thừa chỉ (vị đại phu thay vua soạn chiếu chỉ), Đô Ngự sử (vị quan có trách nhiệm can gián vua không làm việc sai trái), Nhập thị Kinh diên (quan giảng kinh sách cho vua trong Nội điện), Thượng thư (tương tự chức Bộ trưởng ngày nay), Tham tụng (vị quan đứng đầu phủ chúa Trịnh, chuyên coi việc chính sự triều trình, quyền lớn hơn Thượng thư),Tả-Hữu Thị lang (Thứ trưởng)…vv.

Là những người đứng đầu Trung tâm giáo dục lớn nhất đất nước, đồng thời lại đảm nhiệm những chức vụ trọng yếu trong triều đình, các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám giữ một vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển văn hóa, giáo dục của Dân tộc. Họ là những cố vấn giúp các bậc Đế vương sử dụng tinh hoa của Nho giáo (công cụ được người Hán sử dụng để “đồng hóa và nô dịch” người Việt về mặt tư tưởng trong suốt gần 1000 năm Bắc thuộc) để hoạch định chính sách đào tạo, phát triển, trọng dụng nhân tài của Đất nước, đồng thời cũng là những người trực tiếp giám sát và thực hiện các chính sách đó.

Từ thế kỷ XXI nhìn lại, hơn 500 năm đã trôi qua nhưng câu nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước lên và mạnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp. Thế cho nên các bậc Thánh đế, Minh vương không ai không lấy việc đào tạo nhân tài, bồi đắp nguyên khí làm việc cần kíp” (trích văn bia khoa thi 1442) của Tế tửu Thân Nhân Trung vẫn được coi là kim chỉ nam, là chiến lược giáo dục của Nhà nước Việt Nam. Những quan điểm về một nền giáo dục bình đẳng, toàn diện và một chương trình dạy - học, thi cử, trường qui nghiêm túc nhằm đào tạo ra những con người “danh xứng với thực”, vừa có đức vừa có tài,  biết cách xử lý, dung hợp giữa các yếu tố Tri thức - Đạo đức - Hành vi để trở thành người có trách nhiệm đối với gia đình và xã hội…của Trường Quốc Tử Giám xưa ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

 Nhiều du khách quốc tế đã ngạc nhiên thán phục khi nghe các thuyết minh viên tại Văn Miếu giới thiệu rằng: Từ thời Trần (thế kỷ XIII-XV), ngoài việc Tập ấm (tuyển thẳng) dành cho con em trong Hoàng tộc và quan lại cao cấp thì con em bình dân tuấn tú (có tài –đức) người Việt cũng được tuyển chọn vào học tại Quốc Tử Giám. Tính chất tiến bộ của chương trình đào tạo tại Trường Giám (qui định phân bổ Giám sinh 3 xá theo kết quả học tập và chế độ học bổng khác nhau; qui định Nho sinh mỗi năm phải làm 4 bài Đại tập, mỗi tháng một bài Tiểu tập. Ai trả đủ, đúng tất cả các bài thi thì được coi đã là tốt nghiệp chứ không căn cứ cố định vào thời gian 3 năm hay 7 năm…) khiến người ta liên tưởng tới qui định cấp học bổng theo học lực và cấp bằng đại học khi có đủ số tín chỉ môn học của nền giáo dục thời hiện đại.

Lịch sử cũng minh chứng, dưới sự điều hành của các vị Tế tửu, Tư nghiệp, Trường Quốc Tử Giám Thăng Long đã ngày càng phát triển và trở thành hình mẫu cho hệ thống giáo dục Nho học trong cả nước. Sau hơn 7 thế kỷ, tính từ điểm khai hỏa thành lập Quốc Tử Giám (1076), một hệ thống dày đặc các trường, lớp đã được thiết lập từ trung ương đến địa phương, trải rộng từ Kinh thành Thăng Long đến khắp các phủ, huyện, làng quê; Kết quả đã đào tạo ra hàng nghìn các bậc đại khoa, hiền tài không chỉ đáp ứng nhu cầu vận hành của Nhà nước quân chủ Đại Việt mà còn có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, giáo dục, văn học – nghệ thuật, sử học, địa lý, toán học…vv.

Trên cương vị sứ thần, các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám từng đi sứ nhà Minh, nhà Thanh (Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Ngô Sĩ Liên …) bằng tài năng và tri thức của mình đã góp phần tạo dựng cho nước nhà một mối quan hệ bang giao mềm dẻo trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền đất nước. Tế tửu Phùng Khắc Khoan trong chuyến đi công cán tại Trung Quốc còn kín đáo mang về nước hạt Ngọc mễ (giống ngô) để phổ biến cho nhân dân trồng trọt.

Các sử gia: Ngô Sĩ Liên, Lê Tung, Lê Quí Đôn … đã cống hiến cho nền sử học dân tộc những bộ quốc sử quí báu (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử, Quốc sử tục biên…) cùng nhiều tư liệu quí (văn đình đối, văn bia Tiến sĩ, bi ký tại các đền, chùa, nhà học …) ghi chép lại nhiều sự kiện lịch sử trọng đại diễn ra tại kinh đô và các địa phương. Nhà toán học Lương Thế Vinh với tác phẩm Đại Thành toán pháp và các qui tắc tính chu vi, diện tích các hình khối… đã đưa ngành toán học Việt Nam ở thế kỷ XV bước sang một giai đoạn mới. Thiên Nam dư hạ tập (do Tế tửu Thân Nhân Trung viết chung với Đỗ Nhuận) nói về các qui định, luật lệ, sáng tác văn học dưới thời Lê Thánh Tông, cùng các áng thơ, văn thời Lý – Trần và tác phẩm của các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám (thành viên Hội Tao đàn) hay tác phẩm của nhà Bách khoa toàn thư Lê Quí Đôn đã làm giàu có, phong phú thêm kho tàng văn học, nghệ thuật và góp phần nâng cao nền học vấn nước nhà...vv.

 Bởi vậy, đội ngũ các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám Thăng Long không chỉ là các “yếu nhân” giữ vận mệnh của Trường Quốc Tử Giám trong suốt mấy trăm năm lịch sử dưới thời Lý, Trần, Lê… mà còn là những người đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển chung của nền văn hóa, giáo dục Đất nước./.

                                                                                                                                                                                                                       Ths.Đỗ Thị Tám

Phó Giám đốc Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám


QUAN TẾ TỬU, TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM

Được thành lập từ thế kỷ XI, Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long đóng vai trò là cơ quan quản lý giáo dục của quốc gia, là trường Quốc học cấp cao nhất của nhà nước quân chủ, nơi đào tạo ra hàng ngàn Nho sĩ, trí thức và quan lại cao cấp đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước dưới thời quân chủ. Tế tửu, Tư nghiệp - Các vị quan đứng đầu, quản lý Quốc Tử Giám là những “người tài giỏi, có đức, thông hiểu kinh sách… phụng mệnh (nhà Vua) trông coi nhà Văn Miếu, rèn tập sĩ tử, phải chiếu theo chỉ truyền, hằng tháng theo đúng kỳ cho (học trò trường Giám) tập làm văn, để gây dựng nhân tài, giúp việc thực dụng cho nước”. 

Mặc dù được khởi lập và hoạt động từ năm 1076, nhưng phải đến thời Trần (1225-1400), Quốc Tử Giám Thăng Long mới được nhà nước chú trọng phát triển cả về quy mô và cơ cấu tổ chức. Để việc dạy và học tại Quốc Tử Giám được quy củ, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 5 (1236) Vua Trần Thái Tông đã chọn người quản lý Quốc Tử Giám với chức vụ là Đề điệu. Tuy nhiên, phải đến năm Nhâm Thân, niên hiệu Thiệu Long thứ 15 (1272), Vua Trần Thái Tông mới đặt học quan chính thức cho trường Quốc Tử Giám. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Mùa đông tháng 10. Chọn người tài giỏi, có đức, thông hiểu kinh sách bổ làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Như vậy, Tư nghiệp thời Trần là học quan chính thức của Quốc Tử Giám.

Bộ máy quản lý việc dạy và học ở Quốc Tử Giám thời Trần sau đó hầu như không thay đổi. Sang thời Lê, cùng với sự phát triển của Quốc Tử Giám, hệ thống quan chức của Quốc Tử Giám ngày càng được hoàn thiện. Năm Giáp Dần niên hiệu Thiệu Bình thứ 1 (1434), Lê Thái Tông đặt chức quan Tế tửu đứng đầu Quốc Tử Giám. Chức quan Tư nghiệp đứng thứ 2 sau Tế tửu. Ngoài ra, học quan của Quốc Tử Giám còn có Giáo thụ, Trợ giáo, Ngũ kinh Bác sĩ....

Chức Tế tửu ở Trung Quốc xuất hiện từ thời nhà Hán. Theo sách Từ nguyên của Trung Quốc, Tế tửu vốn là danh hiệu để chỉ người lớn tuổi nhất, có địa vị cao nhất trong buổi tiệc được chọn làm người dâng rượu tế đất trước khi uống. Về sau, lấy đó đặt chức quan. Tế tửu Quốc Tử Giám ở Việt Nam là chức quan đứng đầu trường Quốc Tử Giám. Theo Quan chế thời Hồng Đức, Tế tửu thuộc hàm Tòng tứ phẩm. Chức trách của Tế tửu được Phan Huy Chú cho biết trong Lịch triều Hiến chương loại chí là: “phụng mệnh trông coi nhà Văn Miếu, rèn tập sĩ tử, phải chiếu theo chỉ truyền, hằng tháng theo đúng kỳ cho (học trò trường Giám) tập làm văn, để gây dựng nhân tài, giúp việc thực dụng cho nước”.  Như vậy, Tế tửu ngoài chức trách là học quan của Quốc Tử Giám còn làm nhiệm vụ trông coi Văn Miếu, thực hiện việc cúng tế xuân, thu nhị kỳ theo quy định tế lễ tại Văn Miếu. Chức trách Tế tửu thời Lê Trung hưng không thay đổi nhiều, nhưng từ năm Bảo Thái thứ 2 (1721), Lê Dụ Tông yêu cầu Tế tửu cùng tham gia giảng dạy cho học trò ở tại Quốc Tử Giám, để khuyến khích sĩ tử, nâng cao chất lượng giáo dục.

Chức năng của Quốc Tử Giám là nơi đào tạo quan lại cho nhà nước, vì thế, Tế tửu với vai trò là người đứng đầu Quốc Tử Giám ngoài việc tổ chức dạy và học, còn phải tổ chức khảo hạch (kiểm tra) sự chuyên cần, tiến bộ của Giám sinh, chấm bài và báo cáo sang Bộ Lại để làm căn cứ bổ tuyển nhân tài theo quy định.

Quốc Tử Giám dưới thời Lê còn là cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo của nhà nước, nên khi triều đình có chủ trương thay đổi quy chế giáo dục, thi cử, thì quan Tể tửu phải thực hiện thay đổi chương trình dạy và học ở tại Quốc Tử Giám, đồng thời hướng dẫn cho các trường học trong cả nước, cho các học quan ở các địa phương tuân theo.

Chức vụ Tư nghiệp ở Trung Quốc được đặt từ thời nhà Tùy năm Đại Nghiệp thứ 3 (603) làm nhiệm vụ nắm việc giáo pháp, chính lệnh ở Quốc Tử Giám. Ở Việt Nam, Tư nghiệp Quốc Tử Giám lúc đầu (thời Trần) là chức học quan đứng đầu Quốc Tử Giám, phụ trách, quản lý việc giáo dục tại trường. Sang thời Lê sơ, là chức quan thứ 2, sau Tế tửu, làm phó cho Tế tửu, giúp Tế tửu trong việc rèn tập sĩ tử. Quan chế thời Lê xếp Tư nghiệp hàm Tòng ngũ phẩm. Từ năm Bảo Thái thứ 2 (1721), Tư nghiệp cùng với Tế tửu tham gia giảng dạy tại trường.

Để đảm nhiệm được trọng trách trên, ngay từ đầu, khi tuyển chọn nhân sự cho Quốc Tử Giám, triều đình thường chọn những bậc tài năng, đạo cao đức trọng. Đợt tuyển chọn Tư nghiệp đầu tiên của nhà nước dưới thời Trần, Tư nghiệp đã là người phải có tài, có đức và thông hiểu kinh sách. Dưới thời Trần, Chu Văn An (1292-1370), danh nho nổi tiếng học vấn uyên thâm, đạo đức trong sáng được Vua Trần Minh Tông mời ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, đồng thời dạy học cho Hoàng Thái tử.

Thời Lê sơ, Tế tửu, Tư nghiệp đều là những bậc đại khoa, nổi tiếng về tài năng và đức độ. Có thể kể đến những bậc hiền tài làm Tế tửu, Tư nghiệp như Trạng nguyên Nguyễn Trực người Quốc Oai, Hà Nội; Bảng nhãn Nguyễn Như Đổ người Thanh Trì, Hà Nội, hay Trạng nguyên Lương Thế Vinh người Nam Định, Tiến sĩ Ngô Sĩ Liên người ở Hoài Đức, Hà Nội; Tiến sĩ Thân Nhân Trung người Bắc Giang, ... Sau này, từ thời Lê Trung hưng, đặc biệt là từ năm Quý Dậu, niên hiệu Chính Hòa 14 (1693) đời Lê Hy Tông, triều đình quy định, những người được giữ chức Tế tửu, Tư nghiệp phải là các nhà khoa bảng, đang giữ những trọng trách quan trọng của triều đình (Thượng thư, Thị lang) kiêm nhiệm. Thời kỳ này, do yêu cầu về canh tân giáo dục, phục hưng đất nước, nên việc tuyển chọn học quan của Quốc Tử Giám rất được chú trọng. Các vị quan đại thần có uy tín, học vấn uyên bác như Hộ bộ Thượng thư Phùng Khắc Khoan; Tham tụng, Thiếu bảo Kiều Quận công Nguyễn Công Thái, Bồi tụng, Công bộ Thương thư Trương Công Giai, Bồi tụng, Lễ bộ Thượng thư Nguyễn Bá Lân, Lễ bộ Thượng thư Nguyễn Nghi; Bồi tụng, Hình bộ Tả thị lang Vũ Miên, Tham tụng, Binh bộ thượng thư Nhữ Đình Toản; Tham tụng, Công bộ Thượng thư Nguyễn Nghiễm, … được triều đình tin tưởng, bổ nhiệm giữ trọng trách Tế tửu, Tư nghiệp. Đội ngũ học quan này đã góp phần không nhỏ vào việc đào tạo nên hàng loạt danh nho, danh thần cho đất nước như: Vũ Miên, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Hoản, Nguyễn Công Thái, Trần Danh Lâm, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Nhậm, Ngô Thời Sĩ, Bùi Huy Bích, Phan Huy Ích, ….

Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám không chỉ là nhà quản lý về giáo dục, mà còn là những nhà giáo mẫu mực, đức trọng tài cao, là những trụ cột quốc gia giúp triều đình trong việc “trị quốc, bình thiên hạ”, là những cây đại thụ trong nền văn hóa, nước nhà. Các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám luôn xứng đáng là tấm gương về trí tuệ, tài năng, tinh thần rèn luyện, cống hiến cho sự nghiệp kiến quốc và trồng người. Họ sẽ mãi là tấm gương để các thế hệ kính trọng, noi theo.

ThS.NCS Nguyễn Văn Tú

Phó Giám đốc Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám


CONFUCIANISM AND THE ESTABLISHMENT OF VAN MIEU – QUOC TU GIAM (TEMPLE OF LITERATURE – FIRST NATIONAL UNIVERSITY)

 

 

Confucianism is one of the first and foremost ethical and philosophical doctrines of the ancient Chinese civilization. Confucian doctrine was created by Confucius in the 6th century B.C which was based on Zhoukung’s ideological basis. Although Confucian doctrine was founded earlier, during the reign of Emperor Wu Di (140 - 86) B.C it became the dominating ideology of the Chinese Feudal society. During a long period of 500 years, Confucianism was continuously improved and developed.  The quintessential values of this doctrine are reflected in the Four Books (Great Study, Golden Means, Analects, Mencius) and the Five Classics (Book of Change, Book of Odes, Book of Rites, Book of Annals, Book of Spring and Autumn).

Created during the troubled background of the late Spring and Autumn period, the core of Confucianism was therefore emphasized to organizing society and to stabilize social order. Confucianism was aimed at building an ideal man, the so called “superior” man. First, the superior man must know how to “educate the self” meaning “improving the self”, then, “organizing the family, governing the State, and ruling others”. Confucius considered the principles of rectification of names, three bonds and five constants as key virtues for all ethical behavior, political conduct and social stability. The three bonds consist of three relationships: King - subjects, father - son, husband - wife. The five constants mean five key virtues that gentlemen should preserve: benevolence, righteousness, proper rite, knowledge, loyalty. According to Confucianism if everyone obeyed these principles, society would not be in trouble.

Confucianism is also one of the most powerful doctrines. It has been spread and has greatly influenced, not only in China but also in East Asia and South East Asia, including Vietnam. Confucianism was introduced into Vietnam in the early Christian era during the period of domination by the Northern invaders as a tool to assimilate the cultures of the Northern people of the ruling policies. As a result, Confucianism firstly penetrated the upper and ruling classes. Gradually, mixed in different ways, Confucianism was fused with other doctrines, religions and beliefs of the native cultures. 

By approximately the 10-11th century in Vietnam, the ideology of “Tri religious Integration” (Buddhism, Taoism and Confucianism) was officially created, but with its hidden role of Confucianism. Because of the historical background of the 10-11th century, especially after the great event of King Ly Cong Uan when he transferred the capital from Hoa Lu to Dai La and renamed the capital as Thang Long (soaring dragon), an urgent requirement was made up at that time to build, consolidate and develop an independent centralized monarchy. The Ly Kings, clear sighted, immediately became aware of the situation and found it necessary to get a solid ideology for the apparatus of government and a good choice of direction to stabilize society. The Ly Kings began to pay attention and realize the importance of Confucianism. Dai Viet Su Ky Toan Thu (Great Viet Complete History) written by the historian Ngo Sy Lien, reports on this great historical event: “In Autumn, in the 8th lunar month, in the year of Canh Tuat, the 2nd year of the reign of Than Vu  (1070) under the King Ly Thanh Tong, Van Mieu (Literature Temple) was built, the statues of Confucius, Zhoukung and his 4 closest disciples were carved and the portraits of 72 Confucian sages were drawn. Worshipping ceremonies were held in four seasons of the year” and the establishment of the Temple of Literature marked the emergence of Confucianism as a cult.

Moreover, the Ly dynasty started to develop the education and examination system to train talented men and recruit capable civil mandarins for its administrative apparatus. In Summer, in the 4th lunar month, the year of Binh Thin, the 1st year of the reign of Anh Vu Chieu Thang (1076), King Ly Nhan Tong ordered the construction of Quoc Tu Giam (College for the Sons of the Nation - National University), and literate mandarins were selected as its students.   The establishment of Van Mieu - Quoc Tu Giam under the Ly dynasty laid the basic foundations for the Confucian education and for the examination system later on. Since then, Van Mieu - Quoc Tu Giam has become an avenue for the gathering of the quintessence of Confucianism and that of Vietnam.


HISTORY OF CONFUCIAN EXAMINATIONS IN VIET NAM

The history of Vietnamese Confucian examinations began with Tam Truong (three rounds) an examination to select Minh Kinh Bac Hoc (Bright Learned Men) which was held in 1075 during the reign of King Ly Thanh Tong. Tam Truong examinations were continuously organized in 1086, 1152, 1165, 1185 and 1193 during the Ly dynasty to seek talented men who could consolidate the apparatus of government.  From 1195, the Ly dynasty held examinations covering the three doctrines (Confucianism, Buddhism and Taoism).  Examinations covering these three doctrines were held until 1247 and were no longer organized since the reign of King Tran Thai Tong.

Under the Tran dynasty (1225-1400), the examination systems developed, examinations were held regularly, the rules and regulations were clearer.  From 1232, the Tran dynasty organized the Thai hoc sinh examination to select De nhat giap (first class laureates), De nhi giap (second class laureates) and De tam giap (third class laureates).  In 1247, the three titles Trang Nguyen (the first title), Bang Nhan (the second title) and Tham Hoa (the third title) were set for three persons who were first class laureates.  In 1374, the royal examination was held in the imperial palace to recruit Tien si (doctoral laureates) instead of the Thai hoc sinh title.  In 1396, King Tran Thuan Tong set out the first rules and regulations for the Huong (regional) examination to select the Cu nhan (bachelor). The rule of organizing the Huong examination every seven years was set, the Huong examination would be held before the Hoi (National) examination in the following year in the Capital. The Hoi examination began under the Tran dynasty.

During the short time of 7 existence years (1400-1407), the Ho dynasty paid attention to the national education and still continued following the examination rules of the Tran dynasty, but the regulations changes, examinations are held once every three years.  In 1400, the Ho dynasty held the Thai hoc sinh examination.  In 1404, procedures to select talented men were made: if the Huong examination were organized in the 8th lunar month of this year, then, the Hoi examination would be held in the 8th lunar month of the following year, successful candidates would become Thai hoc sinh.

During the Le So dynasty, examinations flourished and reached their highest level in the history of Vietnam examinations.  In 1434, King Le Thai Tong issued an edict to fix the rules and regulations of the Huong and Hoi examinations and regulated that examinations were to be organized every three years.

In order to sit for the Huong examination, Confucian students had to pass a qualifying test held in their localities to eleminate those candidates who were not capable or virtuous enough. The Huong examination consisted of 4 rounds:  The first round asked about the content of Confucian classics; The second round required candidates to write administrative documents such as King’s edicts, proclamations, petitions, letters to the Kings; The third round asked candidates to compose poems and odes; The fourth round required them to write essays.  If the candidates were able to pass the first round they were qualified to sit for the next round.  Huong examinations were usually organized in a spacious empty field such as a flat sandy site along a river side or in a rice field after the harvest.  The examination field was surrounded with fences and some cottages were built in the centre for marking examination papers.  Successful candidates of Huong examinations were called Huong cong and were allowed to sit for the Hoi examination.  

The procedure and content of Hoi examinations were the same as those of the Huong examination, but at a higher level.  Those candidates who were able to pass the fourth round of the Hoi examinations were qualified to attend the Dinh (royal) examination.  The winner of the Hoi examination was called Hoi nguyen.  The field of the Hoi examination was similar to that of the Huong examination.

The Dinh examination was organized at the royal court.  Candidates were asked to write an essay on a topic given by the King about the methods of governing the State, the use of talented men, etc.  The Dinh examination was for high-low ranking. The winner of the Dinh examination was called Dinh nguyen. According to the rules of the Le dynasty, the doctoral laureates were normally classified into three classes:

- The first class included a maximum of three persons (Tam khoi), the first title was Trang nguyen; the second was Bang nhan; the third one was Tham hoa.

- The second class laureates were called Hoang Giap (official doctoral laureates)

- The third class laureates became Tien si (doctoral laureates)

However, some examinations were able to recruit only 3 laureates (the examination held in 1592) and some were able to select as many as 62 laureates (the examination in 1478), so not all the titles were given after every examination and it was not always the fact that the first winner (so called Dinh nguyen) of the Dinh examination would be awarded the title of Trang nguyen.  There were only 46 doctoral laureates who were awarded the title of Trang nguyen in the history of the Vietnam examination.

Examinations for Confucian students were organized all over the country, regardless of the school at which they studied, their age, social status or the number of examinations they attempted.  As a result, some Hoi examinations were attended by as many as 6000 candidates, including those serving as civil mandarins and some were able to pass the examination while they were quite young, when another was able to become the winner of the examinations at the age of 68 (e.g. Quach Dong Dan passed the examination in 1634 when he was 68 years old).  Yet, children of singers or entertainers, criminals or unvirtuous people or those who were in mourning, were not allowed to attend the examinations.

The Mac, Le Trung hung dynasties continued the rules and procedures of the Le So dynasty for the examination. 

The Nguyen dynasty settled the capital in Hue.  In 1807, the Huong examination was officially held, at the same time, the holding of the Huong examination was regulated to be held every three years during the years of Ty, Ngo, Mao, Dau and to organize the Hoi examination every three years, in the years of Thin,Tuat, Suu and Mui.  The Huong Examinations fields were organized in many localities for candidates in one province or for those who were from other provinces, such as examination fields in Hanoi, Nam Dinh, Thanh Hoa, Nghe An, Thua Thien, Gia Dinh, An Giang.  The Hoi and Dinh examinations were held in the capital of Hue.  The Nguyen dynasty did not select Trang nguyen, but Pho bang which is under Tien si.

The history of Confucian examinations in Vietnam began in 1075 and ended in 1919, 183 major examinations were held, 2898 laureates were selected, including Trang nguyen, Bang nhan, Tham hoa, Hoang giap, Tien si and Pho bang.


VAN MIEU - QUOC TU GIAM IN THE PERIOD 1945-1988

 

Nhà Hữu vu

 

After 1945, Van Mieu - Quoc Tu Giam was the principal worshipping place, so the only activities held at Van Mieu, were offering ceremonies to Confucius and Confucian scholars.  It is noted that President Ho Chi Minh went there to conduct the Autumn offering ceremony on 21st October 1945 and the Minister of the Interior of the Democratic Republic of Vietnam, Huynh Thuc Khang organized the Autumn offering ceremony on 22nd September 1946.  These events affirmed the significance of the role and great value of Van Mieu - Quoc Tu Giam for the national culture in a new historical situation.

After September 1946, the organization of offering ceremonies was held according to the national democracy and progressiveness of the government of the Democratic Republic of Vietnam.  An offering ceremony was organized once a year on the date of Confucius’ birth (27 August).  The rules and mode of the conduct of the ceremony were simple.  Instead of lying prostrate, the participants of the ceremony needed to kneel down and they could wear western costumes. The offerings were also simple, practical, mainly flowers and fruit.

During the war of French resistance (1946-1954), Van Mieu - Quoc Tu Giam was almost destroyed.  At the beginning of the national war of colonial resistance (1946-1947), the Khai Thanh Shrine and East and West wings in the Great Sanctuary Section were damaged.

To protect the vestige of Van Mieu - Quoc Tu Giam, some people who had responsibility for the national culture, founded “Van Mieu học Hiệp hội (Van Mieu study Association) with the purpose of the restoration and maintenance of the vestige. “Van Mieu study Association” made a great contribution to the preservation of the vestige until the day of liberation for Hanoi (1954).

In 1954, after taking over the Capital, the Culture branch in Hanoi authorized the restoration of Van Mieu.  The Left and Right wings in Dai Thanh courtyard were then restored.

On April 28, 1962 Van Mieu - Quoc Tu Giam was ranked as a National Historical and Cultural Vestige by the Ministry of Culture of Vietnam.

On April 25, 1988, the Center for Cultural and Scientific Activities Van Mieu - Quoc Tu Giam was founded, its office is located inside the vestige; it assumes the task of preservation, restoration, management and exploitation of the vestige and brings into play the values of Van Mieu - Quoc Tu Giam of building modern Vietnamese culture. 


VAN MIEU – QUOC TU GIAM DURING THE PERIOD 1802-1945

Under the Nguyen dynasty, Thang Long was not considered as the capital, but it became the center of the Hoai Duc prefecture, later belonged to Northern Citadel region.  During this period, Van Mieu was called Van Mieu Bac Thanh and later changed its name to “Van Mieu Hanoi”. Quoc Tu Giam and became the school of Hoai Duc prefecture and developed into the Khai Thanh Shrine dedicated to Confucius’ parents.

 

 

During this time, Van Mieu Hanoi was dedicated to Confucius and his 4 best disciples in the Great Sanctuary.  The East and West wings were for the worship of 72 Confucian sages.  The Khai Thanh Shrine was a place for honoring Confucius’ parents.  However this vestige no longer had the function of an advanced educational center in the country, but with its special significance Van Mieu of the Northern Citadel region was paid attention and was restored during the Nguyen dynasty.

In 1805, the Khue Van Cac (constellation pavilion) was constructed by Nguyen Van Thanh, the chief of the Northern Citadel region at Van Mieu.  It is such a unique architectural project: it is a wooden square pavilion with double roofs of pipe shaped tiles; it was erected on a square foundation tiled with Bat Trang bricks.  The pavilion was built on 4 square brick pillars.  The edges of the pavilion are wooden, its roofs were covered with pipe shaped tiles and 4 circular windows attached with spikes radiating outward, symbolizing the shining Khue constellation, that “monitors literature” which gives high regard to the Confucian educational center, and this has contributed to increasing the cultural and artistic values of Van Mieu - Quoc Tu Giam.

In 1808, after the construction of Van Mieu in the Capital Hue, the Nguyen dynasty ordered Van Mieu should be in different localities with Van Mieu of the Northern Citadel region honoring the tablet of Confucius, but not for worshiping his statue.  If any place had statues they had to look for a clean land to bury them. Hence, Van Mieu had only worshipping tablets of Confucius and Confucian sages.

In 1827, under the reign of the King Minh Menh, an order was given to collect printing blocks of Ngu Kinh (Five Classics) and Tu Thu Dai Toan (Complete Four Books) and Vo Kinh Truc Giang in Van Mieu of the Northern Citadel region and bring them to Quoc Tu Giam in the capital of Hue.  In 1833, the Great House of Ceremony and the Great Sanctuary were repaired and repainted; the surrounding walls of Van Mieu were rebuilt.  In 1858, two pavilions on the right and left housing steles were constructed, with 11 rooms each.  In 1863, Hoang Giap (official doctoral laureate), treasurer of Hanoi Le Huu Thanh and An sat (the title of feudal provincial civil mandarins in charge of criminal cases) Dang Ta raised fund to rebuild 4 pavilions, two on each side, with 11 rooms each for the protection of the doctoral laureates’ steles.

After the Patenôtre Treaty (1888), the French completely ruled Hanoi. During the period 1888-1945, Van Mieu – Quoc Tu Giam had the most changes of its history. Van Mieu was turned into a French military area, then a dispensary to isolate patients affected by cholera in Hanoi.  Specifically, the French protectorate used a large part of the area in the North of this site for the planning of streets.  Due to the enduring struggle of the people of Hanoi to protect this vestige from the French invasion, the French military decided to return this vestige for the local authorities to control; thus offering ceremonies were restored in Van Mieu - Quoc Tu Giam.

During the period 1888-1945, Van Mieu was under restoration for different periods in 1888, 1897-1901, and in 1904-1909.  The last biggest restoration of Van Mieu in 1888 was recorded on the wooden board with the Chinese characters “Dai Thanh Gate” (Great Synthetic Gate) and on the horizontal board with the Chinese characters: “Van The Su Bieu” (the everlasting exemplary educator).  Moreover, to comfort Vietnamese, the Minister plenipotentiary of the Northern region provided finance for the repairing of worshipping rooms, the buying of ceremonial tools and asked for the yields collected from the surrounding land with an area of over 12.300 mfor the management and restoration of Van Mieu.  In 1906, Van Mieu – Quoc Tu Giam was ranked as a historical and cultural vestige by the General Governor to Indochina.

Van Mieu - Quoc Tu Giam under the Nguyen dynasty (1802-1945) had to overcome many ups and downs; however this vestige was always preserved, maintained and well deserved as the quintessential educational and cultural center of the nation. 


VAN MIEU - QUOC TU GIAM UNDER LE TRUNG HUNG DYNASTIES

 

 

 

 


VAN MIEU - QUOC TU GIAM UNDER LE SO - MAC DYNASTIES

 

 


VAN MIEU - QUOC TU GIAM UNDER LY, TRAN, HO DYNASTIES

 

 

The Temple of Literature was established under the reign of Ly Thanh Tong, the second year of the year of the Dog, the year of the second year of the Spirit (1070), a place of worship of Confucius, Chu Cong and Tu Phe (the four excellent students of Confucius were Nhan Tu, Tang Tu and Tu Tu and Mencius), and the Seven Sage Sages (72 typical Confucian houses were honored as the Sage), and also the place where Prince Crown Prince Ly Can Duc went to study. Quoc Tu Giam was founded under Ly Nhan Tong, the first year of the first Vu Anh Chieu Thang (1076) was the place for literate officials and children of the Royal Family, the Great Prince in the Capital to study. When newly established, the size of the Temple of Literature - Quoc Tu Giam was still modest, but following the development of Confucian status in society, the Temple of Literature - Quoc Tu Giam was gradually paid attention to and expanded. In the Tran dynasty, although Buddhism was still thriving, although it was very disturbed by the resistance wars against the Nguyen Mong army, the Tran kings were still interested in the Temple of Literature - Quoc Tu Giam and Confucian education. In 1236, the royal court took Pham Ung Than to hold the position of Thuong Thuong and De Quoc Tu Vien to oversee the study at the National Academy. The court allowed the restoration of Quoc Tu institute in 1243, and took a photo of the statue of Chu Cong, Confucius and Manh Tu in 1253 to worship and let the Confucian scholars come to Quoc Tu institute to teach the Four Books and the Six Sutras. The establishment of the National Academy (Giam (school) was changed into a institute) as a learning place for literate officials in the localities and the king's children, the high official in the imperial capital marking the maturity as well as the big role. Great Temple of Literature - Quoc Tu Giam in this period. The Temple of Literature under the Tran dynasty has been beautifully renovated



SERVICES


VISITING THE RELIC

Advice and itinerary to better plan your visit

Detail

VISITING RULES

The things to note when visiting

Detail

FAQS

Frequently Asked Questions

Detail