RELICS

BIA TIẾN SĨ TẠI VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM HÀ NỘI VỚI TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC DÒNG HỌ NGUYỄN HẠ YÊN QUYẾT

82 bia đá đề danh Tiến sĩ của các khoa thi từ 1442 đến 1779 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là những di vật quý giá và được xem như pho sử bằng đá về giáo dục Nho học Việt Nam, trải qua hơn 5 thế kỷ tồn tại cùng với những thăng trầm của lịch sử, cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.

Nội dung bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn ghi đầy đủ những thông tin cụ thể về khoa thi, số lượng thí sinh, tên, quê quán người thi đỗ, tên các quan coi thi, chấm thi,... Những thông tin này cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng quan về sự phát triển giáo dục thời Lê - Mạc. Qua thông tin trên các bia Tiến sĩ chúng ta thấy sự xuất hiện của nhiều làng khoa bảng, dòng họ khoa bảng. Trong số đó có dòng họ Nguyễn ở Hạ Yên Quyết, huyện Từ Liêm, nay thuộc phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội.

Làng Hạ Yên Quyết (làng Cót) là một làng trong 4 làng nổi tiếng (Mỗ, La, Canh, Cót). Dòng họ Nguyễn là một trong những họ nổi tiếng ở Hạ Yên Quyết, đây là một dòng họ có truyền thống hiếu học từ lâu đời. Đến nay họ Nguyễn đã phát triển được hơn 20 đời trong gần 600 năm với rất nhiều danh nhân học cao, trí lớn, có đức, có tài, đã đem toàn bộ tài năng và trí tuệ của mình cống hiến cho đất nước, phục vụ nhân dân. Họ đều là những người đức độ, chính trực, thanh liêm, lập lên nhiều công lao lớn và được sử sách ghi lại. Dòng họ Nguyễn có tất cả 5 vị đỗ đại khoa, 30 vị đỗ Cử nhân, Tú tài.

Cụ thủy tổ của dòng họ là Nguyễn Như Uyên, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Sửu niên hiệu Quang Thuận 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, chưởng lục bộ, kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, Nhập thị kinh diên.

Đời thứ hai là Nguyễn Xuân Nham, cháu họ của Nguyễn Như Uyên, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông. Làm quan đến chức Thừa chính sứ.

Nguyễn Như Uyên và Nguyễn Xuân Nham đỗ các khoa thi năm 1469 và năm 1499. Hai khoa thi này theo Đại Việt sử ký toàn thư chép đều được dựng bia đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám song đã bị thất lạc, những bia này hoặc đã bị huỷ hoại, hoặc chuyển dịch thất lạc, bị vùi lấp đâu đó chưa phát hiện được.

Đến đời thứ ba là Nguyễn Khiêm Quang, cháu của Nguyễn Như Uyên, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên 2 (1523) đời Lê Cung Hoàng. Khoa Quang Thiệu 5 (1520) và 2 khoa đời Lê Cung Hoàng (Thống Nguyên 2 (1523) và Thống Nguyên 5 (1526), tức 3 khoa thi cuối cùng của đời Lê sơ thì không những đương thời mà cả về sau cũng chưa bao giờ được dựng bia. Vì thế mặc dù đỗ Tiến sĩ song tên ông không được khắc trên bia đặt tại Văn Miếu.

Đời thứ 5 là Nguyễn Nhật Tráng, cháu của Nguyễn Khiêm Quang, ông đỗ Hội nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Ất Mùi niên hiệu Quang Hưng 18 (1595) đời Lê Thế Tông. Bia Tiến sĩ năm 1595 đặt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám khắc tên ông: “Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân: Nguyễn Nhật Tráng: xã Yên Quyết Hạ, huyện Từ Liêm”.

Đời thứ 8 là Nguyễn Vinh Thịnh, cháu tằng tôn của Nguyễn Nhật Tráng, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ 2 (1659) đời vua Lê Thần Tông. Tên của ông được khắc trên văn Tiến sĩ khoa thi năm 1659 đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám: “Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân: Nguyễn Vinh Thịnh: xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm”.

82 bia Tiến sĩ là nguồn sử liệu hết sức quý giá, chúng ta có thể tìm được rất nhiều thông tin về lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, các giá trị triết lý, giá trị tư tưởng và quan điểm của người đương thời. Những tấm bia đá hiện vẫn còn ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám luôn nhắc nhở chúng ta về chính sách đối với nhân tài, đề cao, ca ngợi công trạng của các danh nhân với dân, với nước. Trong số 1304 vị Tiến sĩ được lưu danh trên bia Tiến sĩ nói chung và những vị Tiến sĩ của dòng họ Nguyễn ở Hạ Yên Quyết nói riêng, rất nhiều người đã trở thành những nhà hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục..., trở thành những vị quan công minh đem tài trí của mình giúp dân, giúp nước.

Bài và ảnh: Bạch Ngọc Minh


VỀ TẤM BIA KHOA THI NĂM MẬU TUẤT NIÊN HIỆU QUANG HƯNG THỨ 21 (1598) TẠI VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM HÀ NỘI

Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi lưu giữ 82 tấm bia Tiến sĩ, những “Bảo vật quốc gia”, “Di sản Tư liệu Thế giới trên phạm vi toàn cầu” vô cùng ý nghĩa. Hệ thống bia Tiến sĩ đã trở thành những di sản vô giá của nền văn hóa dân. Trên bia có khắc họ tên và quê quán của 1304 vị Tiến sĩ thi đỗ dưới thời Lê - Mạc. Tấm bia Tiến sĩ khoa thi Mậu Tuất niên hiệu Quang Hưng thứ 21 (1598) có ghi họ tên quê quán của Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Duy Thì, một danh nhân có nhiều đóng góp cho đất nước.

 

 Bia khoa thi Mậu Tuất (1598) có chiều cao 167cm, chiều rộng phần sát đế bia 118cm, độ dày của bia 23cm. Đế bia cao 35cm, rộng 114cm, dài 162cm. Trên bia có 46 dòng khắc 1207 chữ Hán... Đế bia được tạo hình rùa chạm khắc sơ sài rùa cổ rụt, đầu bằng ngang, hai mắt lồi và sống mũi được tạc rõ, đầu nhỏ. Mai rùa hơi cong, trên mai có khắc hình lục giác, có một gờ nhỏ ở giữa chạy suốt sống lưng, gáy khớp dày hẳn lên.

Tiêu đề của tấm bia khoa thi năm Mậu Tuất (1598) viết theo thể chữ triện, thường dùng trong ấn tín của triều đình và nghệ thuật thư pháp, có giá trị nghệ thuật cao được viết và khắc bởi nhóm: Trung thư giám Nguyễn Quang Đắc và Triện thích thái thừa Quế Lan nam Nguyễn Quang Độ.

 Hoa văn trang trí xung quanh diềm bia là hoa sen, hoa cúc, hoa trà, hoa mẫu đơn chạm trổ cầu kỳ, có điểm thêm lá và hoa rất hài hòa. Chân diềm bia chạm hình cánh sen đều liên tiếp thành hàng dài, trên cánh có trang trí thêm các đường chỉ mảnh theo hình cánh hoa làm tăng thêm tính thẩm mỹ. Chỉnh thể của hoa văn ở diềm, chân diềm và chữ triện ở trên bia tạo thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo mang tính thẩm mỹ cao giúp các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu tìm hiểu sâu hơn về điêu khắc đá và mỹ thuật Việt Nam ở thế kỷ XVII.

Bài ký của tấm bia Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Tuất (1598) đã chỉ rõ đây là khoa thi thứ 2 dưới thời Lê Trung hưng. Bia cũng ghi lại đầy đủ thành phần của ban giám khảo là các vị đại thần đầu triều như: Đề điệu là Thái úy Ngạn quận công Trịnh Đỗ, Tri cống cử là Ngự sử đài Đô Ngự sử Lê Trạc Tú, Giám thí là Lễ bộ Tả Thị lang Ngô Tháo, Đại lý tự khanh Trần Phúc Hựu là quan độc quyển. Hoàng thượng đích thân định thứ tự cao thấp. Nho sinh Nguyễn Duy Thì đã phải đem hết tài học sở trường của mình chứng minh trước ban giám khảo, những người lỗi lạc, uyên thâm cả về kiến thức và kinh nghiệm. Ông đã vượt qua rất nhiều thí sinh để là 1 trong 5 người có tên trên bảng vàng, bia đá của kỳ thi Đình năm Mậu Tuất (1598).

Những người cùng được khắc tên trên bia với Nguyễn Duy Thì gồm: Nguyễn Thứ: người xã Bột Thái, huyện Hoằng Hóa; Lê Bật Tứ: người xã Cổ Định, huyện Nông Cống; Nguyễn Khắc Khoan: người xã An Khang, huyện Yên Phong; Nguyễn Giới (Kiệm): người xã Văn Lâm, huyện Nga Sơn.

Trong 5 vị Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Tuất (1598) duy nhất Nguyễn Duy Thì sau này trở thành Tế tửu Quốc Tử Giám đúng như quan điểm của nhà nước đã nêu ở bài ký khoa thi này “chọn người tốt mà làm thầy” sau nhiều năm giữ chức Tư nghiệp đến năm Dương Hòa 6 (1640), ông giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám phụ trách việc đào tạo giáo dục nhân tài cho đất nước.

Bia  khoa thi năm Mậu Tuất (1598) dựng vào ngày 16 tháng 11 năm Thịnh Đức thứ nhất (1653) sau khi Nguyễn Duy Thì thi đỗ 55 năm và qua đời được 2 năm. Hàn lâm viện Hiệu thảo Trịnh Cao Đệ  là người soạn bài ký. Người nhuận lại bài ký là Lễ Bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Dương Trí Trạch. Họ là những người nổi tiếng văn hay chữ tốt, có uy tín và kinh nghiệm được triều đình giao cho trọng trách soạn văn ký, nhuận sắc bài ký trên bia Tiến sĩ để lưu danh muôn thủa.

Bia Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Tuất (1598) là tấm bia ẩn chứa nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục. Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Duy Thì khắc tên trên bia lưu danh muôn thuở, hậu thế nhìn vào ngưỡng vọng, công trạng của ông luôn được người đời sau ghi nhớ. Một người hết lòng vì dân vì nước như ông được các thế hệ người Việt Nam tri ân và tưởng nhớ.

Tấm bia khoa thi Mậu Tuất (1598) là một di sản tư liệu quý, tác phẩm nghệ thuật độc đáo của nền văn hóa dân tộc hiện còn được lưu giữ tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội./.

 

Sưu tầm


DOCTORAL LAUREATE’S STELE - THE VALUABLE RESOURCES ABOUT HISTORY OF VIETNAMESE EDUCATION

 

Today, when visiting the Special National Landmark  Van Mieu - Quoc Tu Giam, visitors get a better view of the 82 doctoral’s stele which preserve the names and native places of 1,304 graduates of 82 royal exams (81 exams held by Le dynasty and one exam held by Mac dynasty) held from 1442 to 1779. These 82 stone steles were inscribed on the Asia-Pacific Memory of the World Register in 2010 and the International Memory of the World Register in 2011.

 

The history of Vietnamese education, Confucian teaching and learning in our country dates back to the Ly dynasty, and was further developed through the Tran and Ho dynasties. Under the Le dynasty, Confucian teaching resulted in training thousands of talented men for the country. The text for the stele of the first examination held in the 3rd year of the reign of Dai Bao (1442) was composed by the academician Than Nhan Trung (Title: Han lam vien Thua chi, Dong cac Dai hoc si) affirms: “Virtuous and talented men are the essence of the State’s vitality”. It was always considered the guideline for education of many dynasties.

The stele not only show the way of using talents, the content on the stele also teaches lessons and reminds the talented men the responsibility to the country: The text for the stele of the first examination held in 1487 states: “Whose names appear on this stone are very lucky! They should try their best to make their fame match their abilities”; The text for the stele of the first examination held in 1514 states: “They should become ‘auspicious clouds, stars, shining gems and pure gold’ for the nation”; The text for the stele of the first examination held in 1577 states: “If any of the laureates uses the honors he has gained to seek wealth and credit from the mandarinate, posterity will surely criticize him as an evil, mean man who brings disgrace on our education system”.       

The text on the stele records the names and homelands of the laureates, the names and the titles of the text composer, editor, calligrapher and the time of the stele erection, the names of examination executives, examiners, and dates of Royal examination, the date of hanging the board written names who passed Royal exams… Based on that information, we can assess the situation of educational development under the Le and Mac dynasties.

The number of candidates attending the examination steadily rose over a period of one thousand years showing an interest in the education of the State and the society. In 1442, 450 men participated in the examination process; in 1448, there were 750 participants; in 1475 there were 3000 participants, and in 1640 there were 6000 men taking the exam.

However, the examination process was rigorous.  Even though there was a steady increase in the number of men taking the exam, there was not an increase in the number of men who passed the exam. The candidates' quality requirements were disregarded. The text on the stele states: The number of men who passed the exam in one examination was 62 people (exam in 1478), and at least there were only 3 men passed (exam in 1592, 1667).

Of the 1304 graduates who were listed on the Doctorate laureate’s stalea, many later became social and political activists, famous culturalists who left behind many valuable works for future generations. Thus, 82 stone steles at Van Mieu - Quoc Tu Giam vividly reflect the educational history of our country from the 15th to the 18th centuries.

 

Translator: Thu Hương


 THE STONE STELAE – A WORLD DOCUMENTARY HERITAGE

On January 14, 2011, 82 stone  stelae were regconized as a national treasure.  In May 2011, the  82 stone stelae at Van Mieu – Quoc Tu Giam were ranked as a world documentary heritage. Le Thanh Tong King (1460 – 1497) thought highly of Confucianism and ordered stone  stelae to be erected to memorialize the nation’s talents.

Nowadays, 82 stone  stelae from 15th to 18th centuriesrecord the names of 1304 doctoral laureates.  These 82 stone  stelae are original and  havve beenpreserved.

 

Original and unique

The 82 stone  stelae are original artifacts found only at Van Mieu – Quoc Tu Giam in Hanoi.  They provide an opportunity to researchthe connected relationship between geography and the history of culture in Vietnam.

The 82 stone  stelae are a precious textual source of history that helps us  research the life and careers of Vietnamese talents and provideso a complete list of graduates in Han – Nom bibliographies of Vietnam.

More specifically, each inscription provides information on the history of the examination and the political and social context of the Viet kingdom during that period by singing the praises of talented men and the virtues of the ruling monarch and outlines the purposes and requirements of the education system. The inscription for the examination held in 1442 says: “Virtuous and talented men are the primordial vitality of a State. If this vitality is strong, the State will be powerful and prosperous. If it is not, the State will weaken and have a low standing. Therefore, clear – sighted monarchs always attach importance to educating talented men and selecting Confucian scholars for the mandarinate, and regard the fostering of the State’s primordial vitality as an urgent task”.

Diversity of value of source text

Content of inscriptions on 82 stone  stelae have been researched and identified  many subjects: history, culture, education, philosophy, law, comtemplary written language...

The inscription on each  stelae, speaks highly of the role of Confucianism in social-political life and the king. In the past, the kings always cared and respected the talents who are considered the most important factors to consolidate the country, and rule the nation.

History of education in Vietnam is evident on the 82 stone steale.  The steale illustrate the rule of education, the names of exams (Hoi, Dinh exams) and the tittles of doctoral laureates with their ranks: the first rank (Trang nguyen, Bang nhan, Tham hoa); the second rank (Hoang giap); the third rank (Tien si).

The 82 stone  stelae were engraved in Han character, important characters that provides research of the history of development of Han character from 15th to 18th centuries.The earliest stone  stelae are inscribed with seal character, reflecting traditional creation of calligraphy in Vietnam.

Diversity of form and style

The 82 stone  stelae were erected in different dynasties, which is evident by three different shapes of tortoise. Each  stelae has its own artistic character, represented by the design of the tortoise or pediment and edges, which reflects the artistic symbolism of the times and thus sheds light on the development of Vietnamese art history during the 15th and 18th centuries. Every steale is a real work of art, having been created by the best scholars, craftmen and calligraphers of the era.

Stone  stelae at Van Mieu – Quoc Tu Giam record events of politics, culture and science. The development of education policy was important to develop a strong nation.

                                             Translator: Bich Phuong


GIÁ TRỊ BIA TIẾN SĨ

82 bia Tiến sĩ là những di vật giá trị bậc nhất của di tích Văn Miếu- Quốc Tử Giám, niềm tự hào của nền văn hóa giáo dục dân tộc đã tạo nên và lưu giữ được một pho “sử đá” có giá trị về nhiều mặt.

1.       Giá trị lịch sử

Nội dung những bài văn bia do phải tuân theo khuôn khổ, nội dung nhất định nên không tránh khỏi nhiều đoạn trùng lặp. Nhưng qua pho “sử đá” đồ sộ đó có thể thấy được quan điểm về giáo dục thời phong kiến được nói đến nhiều lần trong mục đích dựng bia đồng thời cho biết sự “náo nhiệt” của không khí học hành thi cử, họ tên của các bậc danh nho và các địa phương, các dòng họ có truyền thống khoa bảng.

Bia Tiến sĩ cho biết số người dự thi. Khoa 1442 có 450 người, khoa 1448 có 750 người, khoa 1463 có 1400 người, khoa 1466 có 1100 người, 1475 có 3000 người, khoa 1481 có 2000 người, khoa 1514 có 5700 người, khoa 1640 có 6000 người dự thi… Qua đó có thể thấy được số người đi học đậu thi Hương để vào thi Hội, thi Đình đông đến mức nào và cũng chứng tỏ việc học hành giáo dục của thời Lê phát triển rất cao.

Nhưng chẳng ai đi thi đều đỗ và đỗ cao cả. Với số lượng thí sinh đông như vậy mà có khoa thi chỉ lấy đỗ có 3 người (khoa Đinh Mùi niên hiệu Cảnh Trị 2 - 1667) và nhiều nhất là 62 người (khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9 – 1478).

 Các vị tân khoa sau khi thi đỗ được ban hưởng mọi ân huệ của nhà vua, nào mũ áo cân đai triều phục, nào ngựa quý cờ quạt nghi trượng phường trống vinh quy bái tổ, bổ dụng quan chức trong triều ngoài phủ…ngần ấy thứ vẫn chưa đủ, lại còn khắc đá đề tên đặt nơi cửa hiền tài khiến cho kẻ sĩ phu trông vào mà sinh lòng hâm mộ phấn chấn, tự biết rèn luyện lấy danh tiết. Người được khắc tên lên bia đá đầu tiên là Trạng nguyên Nguyễn Trực người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai (nay thuộc thôn Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây) đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời Lê Thái Tông, làm quan chức Thủ trung thư lệnh, Tri tam quán sự, đại liên ban đặc thụ, Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, từng đi sứ nhà Minh. Ông là văn thần được Lê Thánh Tông rất kính trọng, thơ văn của ông sáng tác phần nhiều đều cho đưa đến để ông nhận xét, bình luận. Tác phẩm Bối Khê thi tập hiện chỉ còn 6 bài thơ chữ Hán chép trong Toàn Việt thi lục. Người cuối cùng được ghi tên lên bia đá là Tiến sĩ Phan Huy Ôn người xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Nghệ An) khoa thi Kỷ Hợi (1779) và cũng là khoa thi cuối cùng được dựng bia tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám, Hà Nội.

Qua văn bia còn có tìm thấy tên họ của nhiều vị đã từng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các sách sử Việt Nam đồng thời cũng là những người có công lao lớn đối với nước với dân như Nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Tiến sĩ năm 1442, người xã Chúc Sơn, huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây) đã soạn bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư gồm 15 bộ. Hoàn chỉnh bộ sách này là nhà bác học Lê Quý Đôn người xã Diên Hà, huyện Diên Hà, tỉnh Thái Bình, đậu Bảng nhãn khoa thi 1752. Ông viết rất nhiều tác phẩm như: Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục, Vân đài loại ngữ… bao gồm các mặt chính trị, triết học, quân sự, kinh tế, xã hội, lịch sử, thơ ca.. Ông là một nhà học thuật tài năng lỗi lạc. Ngô Thì Nhậm, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội, đỗ Tiến sĩ khoa 1775, là nhà chính trị, ngoại giao lỗi lạc, đã giúp vua Quang Trung - Nguyễn Huệ chiến thắng quân Thanh trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa lừng danh trong lịch sử. Ông là con của Ngô Thì Sĩ đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1766, cha con cùng đỗ đạt và làm quan một triều.

Truyền thống hiếu học còn thể hiện ở dòng họ khoa bảng, một xã một huyện có nhiều người đỗ đạt cùng được khắc tên, quê quán trên bia Tiến sĩ.

Nói đến truyền thống hiếu học khoa bảng phải nhắc đến Kinh Bắc. Với một vùng đất màu mỡ có sông Đuống, sông Cầu…chảy qua, bên cạnh những làn điệu quan họ, tranh vẽ Đông Hồ… là danh sách của hơn 430 vị đỗ đại khoa gồm có 15 Trạng nguyên, trong đó có Lê Văn Thịnh người làng Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh), 15 Bảng nhãn, 19 Thám hoa, 90 Hoàng giáp và 291 Tiến sĩ, 10 Phó bảng, 98 vị được ghi tên lên bia đá dựng tại khu di tích Văn Miếu- Quốc Tử Giám.

Xã Mộ Trạch, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương cũng nổi tiếng khoa bảng, có 30 Tiến sĩ. Dòng họ Thân Nhân Trung ở xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang mấy đời liền đỗ đại khoa, đều cùng làm quan một triều. Thân Nhân Trung đỗ Tiến sĩ năm 1469, làm quan Lại bộ Thượng thư Chưởng Hàn lâm viện kiêm Đông các Đại học sĩ, con là Nhân Vũ, Tiến sĩ năm 1481, và Nhân Tín, Tiến sĩ năm 1490, cháu ông là Thân Cảnh Vân, Thám hoa năm 1487.

Dòng họ Ngô xã Vọng Nguyệt, huyện Yên Phong 5 đời liền đỗ đại khoa: Ngô Nhân Triệt đỗ Tiến sĩ năm 1608 là cháu của Ngô Ngọc (Hoàng giáp 1487) và Ngô Hải (Hoàng giáp 1508) là con của Ngô Trừng (Hoàng giáp 1508), là cha của Nhân Tuấn (Tiến sĩ 1640).

Dòng họ Nguyễn xã Vân Điềm, huyện Đông Ngàn có Nguyễn Thực đỗ Hoàng giáp 1595 làm quan Tán trị công thần Tham tụng Lại Bộ thượng thư Chưởng Hàn lâm viện sự kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Lan quận công, là cha của Nguyễn Nghi (Tiến sĩ 1620), tằng tổ của Nguyễn Khuê, Nguyễn Sĩ (Tiến sĩ 1670), cao cao tổ của Nguyễn Thẩm (Tiến sĩ 1760) và Nguyễn Thưởng (Tiến sĩ 1754).

Những dòng họ, xã có nhiều vị đỗ đạt cao đã tạo nên truyền thống hiếu học của địa phương.

2. Giá trị mỹ thuật của bia Tiến sĩ

82 tấm bia Tiến sĩ là 82 phong cách điêu khắc, nhưng có thể chia làm 3 loại theo thời gian dựng bia và đặc trưng nghệ thuật của bia:

Loại I: Gồm các bia dựng từ năm Hồng Đức thứ 15 (1484) đến năm Đại Chính thứ 7 (1536)

Loại II: Gồm các bia dựng cùng một năm Thịnh Đức thứ nhất (1653)

Loại III: Gồm các bia dựng từ năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1717) đến năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780)

Theo nhiều nhà nghiên cứu đánh giá trong số 82 bia còn lại đến nay, có 25 bia loại II là những bia có nghệ thuật trang trí tiêu biểu, là những sản phẩm văn hóa quý giá nhất trong kho tàng sản phẩm văn hóa còn lại ngày nay ở Văn Miếu Hà Nội

a) Về hình dáng bia: Loại II đều cao to hơn loại I, thường cao từ 155cm đến  170cm, rộng từ 110cm đến 125cm và dày từ 20cm đến 30cm. Hình dáng của trán bia cong vút lên gần với hình bán nguyệt chứ không thấp bé như loại trước nữa.

b) Về nghệ thuật tạo rùa: Ở bia loại I thời Hồng Đức được thể hiện bằng những khối tròn, trơn nhẵn, đường nét tinh tế. Nhưng rùa loại II lại chỉ phác họa bằng những khối vuông, góc cạnh, đường nét đơn giản, dứt khoát. Rùa ở loại II cổ rụt, đầu chếch hoặc bằng ngang, mặt bẹt, sống mũi nở cao, thẳng, mắt tròn, nhỏ, lồi và sát gần nhau, hai hốc mày và toàn bộ trán đều nổi cao gắn liền với sống mũi, tạo nên một đường gần giống với chữ T; miệng rộng cong hình cung, không có răng nanh, mai cong đều có một gờ nhỏ ở giữa chạy giữa suốt sống lưng, vai rùa không rằn xuống mà gần như vuông hẳn lại, gáy có khớp dày và chân tạc sơ sài.

c) Về nghệ thuật trang trí trên bia: Trước hết hãy xem xét việc trang trí trên các trán bia, nơi vốn được coi là chỗ trang trọng nhất của một tấm bia. Ở đây chủ yếu đều chọn đề tài hai rồng chầu mặt nguyệt. Cách bố cục mang nhiều nét đẹp của loại đề tài này là cách bố cục hình rồng uốn khúc từ trên vòng xuống, đầu quay ngẩng lên trong tư thế rất khỏe. Đầu rổng ngẩng cao, mặt nghiêm chỉnh hướng về phía các viên ngọc đang bay lơ lửng trong viền mây lửa của mặt nguyệt. Thân rồng cuộn khúc vòng ngược trở lên, đuôi lượn sóng chạy song song với diềm bia. Hình rồng ở đây có dáng mập, thân nổi lên cuồn cuộn với những hình khối tròn, chắc nịnh và đường chạm sâu. Đặc điểm của hình rồng này là : Đầu to, trán tròn, mũi cũng rất to và phồng cao, mồm rộng có răng nhọn và đặc biệt có răng nanh mọc dài ra ngoài, mắt nhỏ có viền lông mày hình mây lửa, hai râu chảy từ mắt xuống vòng dài ra phía sau, gáy có bờm ngắn và trên đó là đôi sừng nhỏ, toàn thân có vảy, được viền bằng một lớp vây sắc, càng về cuối càng to. Đây là một loại rồng mang nhiều đặc trưng của những hình rồng đầu thế kỷ 17 nói chung.

Một thể loại khác là trán bia có hình phượng chầu mặt nguyệt. Hai bên mặt nguyệt là hai hình chim phượng to lớn xòe rộng cánh trong tư thế đang bay.

Nghệ thuật chạm khắc trên các bia loại II nhìn chung đã đạt đến một trình độ tinh xảo. Về bố cục điểm chung là tính cân xứng đăng đối. Tính sinh động đa dạng của bố cục cũng là một đặc điểm nổi bật trên các trang trí của diềm bia. Nghệ nhân không chịu gò bó trong một vài hình mẫu khác biệt nhau.


QUÁ TRÌNH DỰNG BIA TIẾN SĨ

Từ năm 1442 đến năm 1787 dưới triều Lê đã tổ chức được 124 khoa thi Tiến sĩ. Nhưng hiện nay ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám chỉ có lưu giữ 82 tấm bia được xếp thành 2 khu vực Đông, Tây bên giếng Thiên Quang, mỗi bên 41 bia dựng thành 2 hàng. Cách sắp xếp bia không theo thứ tự thời gian, triều đại, hoặc kích cỡ lớn nhỏ mà đan xen lẫn nhau. Nhà che bia lúc đầu đã có và được tu sửa nhiều lần nhưng đến cuối thế kỷ XVIII bị tàn phá hết. Đến năm 1994 mới được làm lại.

Về chủ trương, bia được dựng sau mỗi kỳ thi nhưng không mấy khi được dựng ngay mà làm tập trung vào từng đợt.

- Đợt 1: Năm 1484 dựng 10 bia cho các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1484.

- Đợt 2: Năm 1653 dựng 25 bia cho các khoa từ năm 1554 đến năm 1652.

- Đợt 3: Năm 1717 dựng 21 bia cho các khoa từ năm 1656 đến năm 1712.

Còn 26 bia được dựng ngay sau các khoa thi.

Lễ dựng bia Tiến sĩ đầu tiên được tổ chức trọng thể ngày rằm tháng Tám, năm Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15(đời Lê Thánh Tông) được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư: “ Vua cho là từ năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông (năm sinh vua Lê Thánh Tông) đến giờ việc dựng bia đề tên Tiến sĩ các khoa vẫn chưa làm được, sai Lễ bộ Thượng thư Quách Đình Bảo biên rõ họ tên, thứ bậc các Tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất Đại Bảo thứ 3, khoa Mậu Thìn năm Thái Hòa thứ 6, khoa Quý Mùi năm Quang Thuận thứ 4, khoa Bính Tuất năm thứ 7, khoa Kỷ Sửu năm thứ 10, khoa Mậu Thìn năm Hồng Đức thứ 3, khoa Ất Mùi năm thứ 6, khoa Mậu Tuất năm thứ 9, khoa Tân Sửu năm thứ 12, khoa Giáp Thìn năm nay (1484) khắc vào đá”.

Theo sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776 thì lúc đó có 124 khoa thi Tiến sĩ nhưng nay chỉ còn 82 bia. Như vậy 42 khoa thi có bao nhiêu khoa không được dựng bia, bao nhiêu khoa có dựng nhưng đã mất?

Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì 9 khoa thi những năm 1469, 1472, 1484,  1490,1493, 1499, 1505, 1508 và 1634 đều được dựng bia nhưng nay không thấy có.


THE STONE STELAE AT VAN MIEU - QUOC TU GIAM

Van Mieu – Quoc Tu Giam currently has 82 preserved doctoral laureates’ stelae, which bear the names and places of birth of 1307 graduates from 82 royal examinations which were held from 1442 to 1779 under the Le and Mac dynasties.

The laureates’ stelae were firstly erected at Van Mieu – Quoc Tu Giam in 1484 under the reign of the King Le Thanh Tong (1460-1497).  This event was recorded in Dai viet su ky toan thu: “In the year of Giap Thin, the 15th year of the reign of Hong Duc (1484)… Autumn, on the 15th day of the 8th lunar month, the stelae were set up with the inscriptions of the names and birth places of the laureates from the examination held from the year of Nham Tuat, the 3rd year of the reign of Bao Dai (1442), under the King Le Thai Tong during that dynasty and up to the present.…”. It was such a special event which has increased the great spiritual value of Van Mieu – Quoc Tu Giam.

82 stone slabs remain at Van Mieu – Quoc Tu Giam, which have been set up for nearly 300 years from 1484 to 1780.  Each stele was erected to engrave the names and birth places of the laureates of each examination.  The laureates’ stelae were erected during different periods.  In 1484, the King Le Thanh Tong ordered 10 stone stelae to be set up for the examinations held from 1442 to 1484.  Only 7 stelae erected during that time remain today.  Later, 5 stelae were set up from 1487 to 1529 in 1487,1496, 1513, 1521, 1529 and 2 stelae were erected in 1536 under the Mac dynasty.  The maximum numbers of stelae were set up in 1653, 25 stelae were erected for the examinations organized from 1554 to 1653.  The third period of the erection of 25 stelae was completed in 1717 for the examinations held between 1656 and 1717.  The remainders of the 22 stelae were set up from 1721 to 1780.  The last stele was erected in 1780 for the recording of the examination organized in 1779.

The Doctors’ stelae at Van Mieu – Quoc Tu Giam were created by talented and famous craftsmen and laureates.  All the stelae at Van Mieu – Quoc Tu Giam were created in the same style, which is of flattened stelae.  Each stele consists of two parts:  Stele and stele sole.

 + The stele includes two main parts:

 

      -The stele pediment is an arch shape and has various designs.  The first sentence of the text which is in big ancient Chinese characters indicates the year the examination was organized.

 

      -The main section is a rectangle engraved with the stele text in ancient Chinese characters.  The text on the stele records the names and homelands of the laureates, the names and the titles of the text composer, editor, calligrapher and the time of the stele erection.

 

 +The stele sole are tortoises with different designs and symbolize the longevity, immortality of the talented and virtuous people, the education and laureates’ stelae.

The stelae were erected in different sizes.  Those stelae which were set up in the late 15th and early 16th centuries were small in size.  Later, the sizes of the stelae were larger.  Having been erected for nearly 300 years, the stelae were decorated with abundant designs.  The largest size (height 1.75m excluding the stele sole, width 1.3m) and the smallest size (height 1.1m, width 0.7m), and the average depth of the stele is 0.25m.

The decoration of the stelae erected from 15th to 16th centuries is simple and poor.  The stele pediments were decorated with the sun and spiral clouds.  The edges of the stelae were engraved with flowering vines.  The art styles of the stelae from the 17th to 18th centuries are diversified; the stele pediments were decorated with dragons, phoenix and the moon; the stele edges were enriched with floral motifs (flowers and leaves), human figures, birds and animals.

The motifs on the stone stelae are diversified, and reflect the development of the styles of art throughout time.  Each stone stele is a real work of art, having been created by the best scholars, craftsmen and calligraphers of the era.

The special value of the stone stelae is the inscriptions in ancient Chinese characters.  Each text provides a list of the laureates of that particular examination with the different ranks: De Nhat giap (first rank laureates), De Nhi Giap (second rank laureates) and De tam giap (third rank laureates).  The inscriptions also give us important information on the history of the Vietnam education and examination system and a view of the nation regarding the recruitment and utilization of talented men.  The idea that “Virtuous and talented men are the essential vitality of a State” is mentioned clearly in the texts on the stelae with the following significance:

- Drawing strategic policies for governors both in the past and the present that they should esteem talented people in the management of the State and the building up of the country.

- Specifying and orienting responsibility of the intellectuals for the nation. E.g. they must use their talent to serve the country and train  talented men for the country

The texts on the stelae are the quintessence of knowledge of the intellectuals of different generations and the experiences of the principles for educating themselves and those of the State governance of Vietnam.  In addition, the inscriptions also provide us with valuable lessons on the principles of State governance and that talented people must be given due attention and training whilst building and developing the country.  The text for the stele of the first examination held in the 3rd year of the reign of Dai Bao (1442) was composed by the academician Than Nhan Trung (Title: Han lam vien Thua chi, Dong cac Dai hoc si) and affirms: “Virtuous and talented men are the essence of the State’s vitality” or “the most important and urgent question for the governance of any sovereign is how to make use of talented people” (Inscriptions for the examination in 1448).  Throughout time, the policy of the State governance based on talented people is always right and affirmed.  The text written for the examination held in the 3rd year of the reign of Hong Thuan (1511) by Minister of Rites, Director of the Quoc Tu Giam Le Tung (Title: le bo thuong thu Dong cac Dai hoc si kiem Quoc Tu Giam Te tuu) says: “Any Emperor who wants to govern all corners of the world in peace must seek the support of talented men”, “with regard to the philosophy of State governance, nothing is more important than talented men”.  At the end of the reign of Le Trung hung, the role of talented people was still mentioned: “talented people are ho and tran trees for the nation” (Inscriptions of the examination in 1763).

The significant role of talented people for the nation is repeatedly affirmed and mentioned in almost all texts on the stelae that indicates a national policy and a key feature of State governance and is a valuable lesson for the current and following generations to follow.

To get talented people the governor should foster and train them.  The way of recruitment and attraction of talented men has been reflected in the inscriptions of the stelae, which will make the country prosperous.

First of all, to recruit talented people, the State should give good opportunities for the activities of teaching and studying.  It means the country must build schools, select the best teachers and try to encourage the students: “the King ordered the construction of schools in the prefects across the country and of the Quoc Tu Giam (University for the Sons of the Nation or National University) based in the capital city, recruit the best teachers and print teaching and learning materials” (Inscriptions for the examination in 1442)

However, to get real talented and virtuous people, good examinations must be organized by the government; the successful candidates of the examinations must be utilized and glorified: “the King has made the introduction of examinations to select Confucian mandarins the primary task of his governance” (Inscriptions for the examination in 1442).  These procedures of organizing the examinations to recruit talented men are repeatedly mentioned in the inscriptions of the stelae, so this task is obviously considered as “a must thing to do” for the governor.  There are 60 out of 82 texts covering this matter: “Top and lower ranks of talented men were selected through examinations” or “the recruitment of Confucian scholars should be through examinations” (Inscriptions for the examination in 1703), “training men of talent in schools and selecting Confucian scholars through examination” (Inscriptions for the examination in 1772).

The procedures to honor and glorify Confucian mandarins to spend all their time in study to become talented people were much diversified and those were the lessons and suggestions of the previous generation given to the one following in the State governance and the use of men of talent and virtue.  Those people who were successful in their study and examinations were exempt from hard and unskilled  work and the drudgery of labor; their names were inscribed on the Golden board hung in full glory at the Royal palace or at the gate of the Thai Hoc house; they were appointed to different government positions; ceremonial costumes and headwear were bestowed on the new laureates; their names were recorded in the book Dang Khoa Luc (Records of Royal Examinationsfor mandarins and the literati to see and to read carefully so that they can admire the good actions presented and have the opportunity to inspire themselves.  All of this will make the significance of this inscribed text more radiant, and will have close relations with the fundamentals of governance and the promotion of a civilized mode of life” (Inscriptions for the examination in 1481).

The inscriptions on the stelae provide us with lessons on how to educate ourselves and to become useful people for the homeland and the country.  It is common sense that when people have achieved their goals and are glorified, they sometimes neglect their education; when they receive higher positions they could become as proud as a cock or look down upon others.  In fact, some people lose their will to strive or become depraved and even lose their human dignity and it could be too late for them to be aware of what has happened to them.  The inscriptions on the stelae serve as an advice, even a warning on time for contemporary Confucian scholars and for the subsequent generations.  Firstly, though they succeed and are glorified they must have the dignity to be able to repay the Emperor; their actions must be in accordance with the credits and titles given to them by the Court.  If they want to do those things civil mandarins must whole-heartedly care for the people and the country and know how to propose good policies to the Court…. “They must try their best to perfect their morality such as integrity, industriousness, they should be solid and pure, like “gold and gems”, must have a sense of teamwork and while serving His Majesty they should constantly be right minded” (Inscriptions for the examination in 1706).

The advice on the way to live and how to educate themselves are very sincere and detailed because they gather not only the excellent knowledge and experiences of the text composer but also the emotion for the next generations of the country: “Working at the Court, they should help the Emperor perfect his moral virtue and bring benefits to the people.  When assigned to govern a region, they should become towers of strength.  When holding high posts, they should display their powers of reasoning, so as to fulfill their duties as advisors to the Monarch.” (Inscription for the examination in 1691), “Old age only makes them stauncher.  They should set examples for their descendants and inculcate in them fine virtues such as faithfulness, trustworthiness, honesty and self-respect.  They should not use their good fortune for their personal benefit” (Inscription for the examination in 1670).

The lessons and life experiences of our ancestors and those of the knowledgeable, courageous, moral and talented generations recorded on the stone stelae, have been experienced and proved throughout time.  Those lessons are extremely precious for us for all time, especially nowadays when the country has been in a period of renovation in all aspects and education has experienced many reforms and experiments.  The most important task is to train and foster real virtuous and gifted people, who not only care for their generation but also think of the future generations of the country.

The erection of the stone stelae has exerted a great influence on the course of the training and education of talented people for the country.  The doctoral laureates’ stelae at Van Mieu – Quoc Tu Giam have a great impact on contemporary people and those of coming generations.  The name having been recorded on the stele is an encouragement for study and effort to become useful people for the country and for society. The laureates’ stelae are also a symbol and pride, success and knowledge.

Nowadays, the laureates’ stelae draw the interest of scholars, visitors and dignitaries at home and abroad.  Many very important leaders from different countries visit the vestige and they highly value the benefit and significance of the laureates’ stelae.

 82 stone stelae were classified as a Documentary Heritage of the World and was inscribed in the list of Memory of the World Regional Register for Asia and Pacific by UNESCO in March 2010 and a Documentary Heritage of the World and inscribed in the list of Memory of the World International Register by the General Director of UNESCO in May 2011.  The 82 stone stelae at Van Mieu – Quoc tu Giam were ranked as State treasures by the Prime Minster of the Socialist republic of Vietnam on 14th January 2015.  This is in recognition of the outstanding value of the laureates’ stelae at Van Mieu – Quoc Tu Giam and that of the national culture and education in particular and of the people in general.



SERVICES


VISITING THE RELIC

Advice and itinerary to better plan your visit

Detail

VISITING RULES

The things to note when visiting

Detail

FAQS

Frequently Asked Questions

Detail