DI TÍCH

GIẾNG THIÊN QUANG

 

         Giếng “Thiên Quang”, hay còn gọi là “Thiên Quang Tỉnh” nằm chính giữa khu vườn bia Tiến sĩ. Giếng Thiên Quang hình vuông mỗi cạnh 30m, lan can trang trí gạch men xanh. Nước giếng quanh năm tràn đầy, như tấm gương phản chiếu bầu trời. Giếng mang tên “Thiên Quang” có ý nghĩa là “Ánh sáng trời”.

 

          Về mặt kiến trúc cảnh quan, giếng Thiên Quang như được ứng đối với công trình kiến trúc nghệ thuật Khuê Văn Các phía trên, hai bên giếng là tám dãy nhà bia Tiến sĩ. Dáng hình Khuê Văn Các kết hợp với dãy nhà bia cùng vườn cây cổ thụ xung quanh soi bóng xuống mặt nước trong xanh và tĩnh lặng tạo nên một khung cảnh hữu tình, đa sắc rất ấn tượng với những giá trị tinh thần sâu đậm. Nơi đây đã trở thành một trong những điểm check in độc đáo của du khách khi đến thăm quan di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

 

Chúng ta cùng ngắm không gian xanh mát của giếng Thiên Quang trong khu vườn bia Tiến sĩ nhé!

 

Giếng Thiên Quang quanh năm phản chiếu hình ảnh Khuê Văn Các lung linh

 

Giếng Thiên Quang và cổng Đại Thành

 

Một góc giếng Thiên Quang và dãy bia Tiến sĩ bên tây

 

Các bạn nhỏ thích thú ngắm đàn cá vàng bơi lội tung tăng trong lòng giếng

 

Các em học sinh chụp ảnh kỉ niệm bên giếng Thiên Quang và Khuê Văn Các

 

Du khách chụp ảnh lưu niệm bên giếng Thiên Quang và Khuê Văn Các

AV


Chuông Bích Ung tại nhà Bái Đường

            Tại nhà Bái Đường di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám có treo một quả chuông Bích Ung do Tri Quốc Tử Giám Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm cho đúc năm 1768.

Nguyễn Nghiễm (1708-1775) Người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân - Nay là xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 24 tuổi, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời Lê Duy Phường. Sau khi đỗ ông ra làm quan trong triều. Năm 1767 ông được bổ làmTri  Quốc Tử Giám, tham gia vào công việc trông coi, quản lý Quốc Tử Giám. Ông là người thân sinh ra Nguyễn Khản (Tế tửu Quốc Tử Giám) và Đại thi hào Nguyễn Du.

 Đến năm 1768, Nguyễn Nghiễm xin phép triều đình cho đúc 1 quả chuông lớn và 4 quả chuông nhỏ đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Sau khi được triều đình nhất trí, ông cùng một số học quan tại Quốc Tử Giám đã tổ chức việc đúc chuông. Trải qua thời gian 4 quả chuông nhỏ hiện không còn, chỉ còn lại quả chuông lớn Bích Ung.

Chuông Bích Ung treo tại nhà Đại Bái

Chuông Bích Ung cao 109cm, đường kính miệng chuông 56cm. Quai chuông hình rồng hai đầu, 4 chân, đầu rồng ngậm ngọc, mũi to, mắt xếch, sống lưng và thân trang trí hoa văn hình mây lửa. Thân chuông hình trụ bổ 4 ô, phía trên các ô phân cách với nhau bằng những đường gờ nổi, góc của mỗi ô trang trí hình hoa lá cách điệu. Hai ô ở thân có minh văn bằng chữ Hán. Phía dưới thân chuông, phân cách nhau bằng những đường chỉ nổi, góc và diềm của các ô trang trí hoa lá cách điệu. Đế chuông loe, trang trí hình cánh sen kép. Chuông có 4 núm gõ nổi lên xung quanh trang trí hình cánh hoa. Vai chuông có 4 chữ Hán: “Bích Ung đại chung”. Bài minh trên thân chuông cung cấp nhiều thông tin quý giá. Nguyên văn bài minh như sau:

Chuông lớn Bích Ung

Mùa đông năm Mậu Tí, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 29 triều Lê (1768), Quốc Tử Giám vâng mệnh đúc 1 quả chuông lớn, 4 quả chuông nhỏ.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu Nhập thị Tham tụng Thái tử Thái bảo, Công bộ Thượng thư, hành Lễ bộ sự Tri Quốc Tử Giám, kiêm tri Trung thư giám Nhập thị Kinh diên, kiêm Quốc sử Tổng tài Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm.

Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748), Hoằng tín đại phu nhập thị Bồi tụng Tri Lễ phiên Hàn lâm viện Thị độc hành Binh bộ Hữu Thị lang, Ngự sử đài Thiêm đô Ngự sử, kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu, Quốc sử Toản tu Vũ Miên.

Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1760), triều liệt đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu, Quốc sử Toản tu Nguyễn Lệ cùng trông coi việc đúc chuông.

Ngày nay, chuông Bích Ung đã trở thành một trong những hiện vật quý tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Trong các buổi khuyến học dành cho các em học sinh khi đến thăm Di tích, chuông Bích Ung lại được gióng lên, tiếng chuông trong êm và ngân vang làm cho lòng người càng thêm náo nức và phấn khởi.

Tiếng chuông Bích Ung ngân vang trong một buổi lễ dâng hương 

LH

 

 


CỔNG ĐẠI TRUNG

Từ cổng chính Văn Miếu, có ba con đường: con đường lát gạch chính giữa dẫn đến cổng Đại Trung và hai con đường nhỏ hai bên dẫn đến hai cổng nhỏ là Thành Đức và Đạt Tài.

 

Cổng Đại Trung mang phong cách kiến trúc thời Hậu Lê. Công trình được thiết kế ba gian không có cửa. Nền cổng được lát gạch Bát Tràng, bó vỉa đá, ba bậc lên xuống, tạo cảm giác tôn nghiêm bề thế. Phần mái được lợp ngói mũi hài. Hai bên cổng có hai hàng cột chạy dọc từ trước ra sau, ở giữa có hàng cột để chống nóc. Trên nóc có đắp nổi hai con cá chép chầu vào bình móc. Hình tượng cá chép gợi nhớ đến điển tích “Cá chép vượt vũ môn”, biểu trưng cho tinh thần vượt khó, sự kiên trì, bền bỉ chinh phục tri thức để đi tới thành công. Người học trò khi xưa hay ngày nay cũng vậy, muốn học hành thành tài đều phải chuyên cần và nỗ lực. Tên hai cổng nhỏ Thành Đức và Đạt Tài mang ý nghĩa đào tạo những con người vừa có đức, vừa có tài, giúp ích cho xã hội.


KHU NHẬP ĐẠO

Nhập Đạo là khu thứ nhất của phần Nội tự . Bài học đầu tiên mà các Nho sinh phải học là đạo làm người, sau đó mới học tri thức với mục đích là để trở thành người vừa có đức vừa có tài.

Đây là hạng mục kiến trúc mới được bổ sung vào thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn (1802-1945). Khu vườn được thiết kế đối xứng theo một trục dọc trung tâm tương tự như bốn khu vực khác của Nội tự. Chính giữa khu Nhập Đạo là đường Hoàng đạo (đường xưa chỉ dành cho vua, quan), hai bên là hai đường Linh đạo (đường dành cho dân thường và học trò) cùng hai hồ nước và nhiều cây xanh tạo cho khu vườn một diện mạo khang trang, tươi mát.

 

Cuối khu Nhập Đạo có ba cổng dẫn vào khu thứ hai của di tích. Tên của mỗi cổng đều mang ý nghĩa biểu trưng cho trí tuệ. Cổng lớn chính giữa là Đại Trung, bên trái là cổng Thành Đức (Đạo đức tốt) và bên phải là cổng Đạt Tài (Tài năng giỏi).


CỔNG VĂN MIẾU

Cổng lớn của Văn Miếu được xây vào đầu thế kỷ XX. Cổng xây bằng gạch theo kiến trúc dạng tam quan hai tầng, tám mái. Cửa giữa to cao, tầng trên đề ba chữ “Văn Miếu Môn” (Cổng Văn Miếu). Hai cánh cổng bằng gỗ lim mở vào trong, phía trên trang trí chạm nổi đôi rồng chầu mặt nguyệt.

(Cổng lớn Di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám)

(Rồng đá thời Lê trước cổng Văn Miếu-Quốc Tử Giám)

Phía trước cổng là đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong là đôi rồng đá thời Nguyễn. Hai mặt cổng đều đắp nổi các câu đối chữ Hán. Hai bên cổng có hai bức phù điêu: bức “Cá chép hoá rồng” tượng trưng cho sự phấn đấu, thành đạt trong học tập của Nho sĩ, và bức “Mãnh hổ hạ sơn” biểu tượng cho sức mạnh và khí phách của người trí thức xuất thân ra giúp đời.


BIA “HẠ MÔ Ở VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM
Hai bên khu Tiền án của khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám có hai tấm bia đề chữ “Hạ mã”, có nghĩa là xuống ngựa.
Bia do Thượng thư Bộ công, Tư nghiệp Quốc Tử Giám Nguyễn Hoản cho dựng năm 1771. Bia được đặt trong nhà che bia, bên dưới là bệ, kiến trúc nhỏ nhắn và vuông vắn rất hài hòa với toàn bộ không gian xung quanh. Xưa kia, bia “ Hạ mã” cùng với tứ trụ (4 cột trụ) trước cổng Văn Miếu, được xem là mốc giới hạn xác định ranh giới chiều ngang của Văn Miếu. Bia “Hạ mã” được dựng lên để nhắc nhở những người đi qua đây, dù là bậc công hầu hay khanh tướng, dù võng lọng hay ngựa xe, đều phải xuống ngựa đi bộ ngang qua để biểu thị lòng tôn kính với các bậc Tiên thánh, Tiên hiền.

(Bia Hạ mã hai bên khu Tiền án của khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám)
Bia Hạ mã không phải là không gian thờ tự, thờ cúng, thắp hương. Các tấm bia này là một trong những hạng mục của Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám cần được gìn giữ, bảo vệ.

 


HỒ VĂN - DI TÍCH VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM
Một trong những nguyên tắc cơ bản của thiết kế cảnh quan môi trường trong kiến trúc truyền thống của người Việt Nam là sự hài hoà giữa yếu tố nước (âm) và các công trình xây dựng (dương), nên trước Văn Miếu luôn có hồ nước tên gọi là Hồ Văn. Xưa kia, Hồ Văn không bị tách rời với Văn Miếu bởi một con đường tấp nập xe cộ như bây giờ, và cũng có diện tích rất rộng, giữa hồ còn có đảo Kim Châu. Đến thời Nguyễn, Văn Hồ Đình (đình Hồ Văn) được dựng lên làm nơi sinh hoạt văn chương. Các văn nhân thường tụ họp để bình văn, bình thơ tại Đình này.

(Hồ Văn nhìn từ trên cao)

(Hội Chữ xuân tổ chức tại Hồ Văn dịp đầu xuân)
Năm 1883, nhà Nguyễn cho tu bổ, tôn tạo Hồ Văn và khu vực xung quanh hồ. Sau đó, Hồ Văn do chính quyền thành phố Hà Nội trực tiếp quản lý. Đến năm 1940, hồ được trả lại cho Văn Miếu. Sau này, hồ bị thu hẹp do cây cối và bụi rậm mọc um tùm, cửa hàng, nhà ở lấn chiếm. Từ năm 1990, những toà nhà mới mọc lên và vườn ươm cây đã gần như che kín Hồ Văn.

(Trẻ em tham gia các chương trình trải nghiệm, học tập được tổ chức tại Hồ Văn)
Do tầm quan trọng của Hồ Văn, năm 1998, Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã tiến hành tu bổ, tôn tạo khu vực này. Hiện nay, Hồ Văn mở cửa cho công chúng tham quan và làm tăng thêm vẻ đẹp cho khu vực cổng chính Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đây cũng là nơi tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa có ý nghĩa như: Hội chữ Xuân, Triển lãm thư pháp, Ngày thơ ...

 


KHU THÁI HỌC

 

Khu Thái Học hiện nay được xây dựng vào năm 2000 trên nền cũ của Quốc Tử Giám xưa. Đó là những công trình với công năng mới được thiết kế theo dạng kiến trúc truyền thống, gồm có Nhà Tiền Đường và Nhà Hậu Đường, Tả vu, Hữu vu, nhà Chuông, nhà Trống, cổng phía Đông và cổng phía Tây.

 

Cổng Thái Học

 

Nhà Tiền đường là nơi tổ chức lễ kỷ niệm danh nhân, hội thảo khoa học, triển lãm và các hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống. Nhà Hậu đường gồm 2 tầng: Tầng dưới đặt tượng thờ thầy giáo Chu Văn An là Tư nghiệp Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng) và trưng bày về "Lịch sử Văn Miếu-Quốc Tử Giám và chế độ học hành thi cử Việt Nam".

 

Nhà Tiền Đường

 

Tầng 2 nhà Hậu đường là nơi thờ 3 vị vua có công sáng lập Văn Miếu-Quốc Tử Giám và đóng góp cho sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục Nho học Việt Nam: Vua Lý Thánh Tông (1023-1072), Vua Lý Nhân Tông (1066-1128), Vua Lê Thánh Tông (1442-1497).

 

Góc bên Đông nhà Hậu đường và lầu trống


KHU ĐIỆN ĐẠI THÀNH

 

Lớp không gian thứ tư là khu điện Đại Thành. Chính giữa có sân Đại Bái. Hai dãy nhà phía Đông và phía Tây chạy dọc theo hai bên sân. Toà nhà phía trước là Bái Đường, nơi xưa kia diễn ra lễ tế Khổng Tử. Phía sau Bái Đường là Điện Đại Thành.

Sân Đại Bái và nhà Đại Bái

Tòa Bái Đường có bậc thềm đá, nền lát gạch, chia thành 9 gian với cột bằng gỗ lim chống mái. Mái lợp ngói mũi hài, trên nóc có trang trí hình “lưỡng long chầu nhật nguyệt”. Hai bên gian đầu hồi mặt trước và mặt sau là cửa sổ gỗ chấn song con tiện, phía dưới là bức phù điêu gỗ thời Lê sơ khắc hình rồng mây đao.

Rồng trang trí trên nóc mái điện Đại Thành

Điện Đại Thành chạy song song với nhà Bái Đường, nối với nhau bởi một tiểu đình. Điện Đại Thành gồm 9 gian, xây tường kín ba mặt. 7 gian chính giữa có cửa bức bàn đóng kín, 2 gian đầu hồi có cửa số chấn song con tiện cố định mang phong cách kiến trúc thời hậu Lê. Hệ thống cột trống mái đều được sơn son thếp vàng. Mái lợp ngói mũi hài, nóc mái cũng trang trí đôi rồng chầu nhật nguyệt.

Điện Đại Thành là nơi thờ Khổng tử, Tứ phối và Thập triết. Gian chính giữa là tượng đức Khổng Tử, mặt nhìn về hướng Nam, phía sau là khám thờ trên có bài vị.


CỔNG ĐẠI THÀNH

 

Cổng Đại Thành mang phong cách kiến trúc thời Hậu Lê (TK 15-17). Công trình bằng gỗ ba gian. Mái lợp ngói mũi hài. Rồng được trang trí trên cánh cổng theo chủ đề “Long vân khánh hội” – thể hiện sự phồn thịnh của đất nước đối với đạo học nước nhà. Dưới chân cổng Đại Thành có 6 con Nghê cối cửa được tạo tác tinh tế với chất liệu bằng gỗ và đá.

Hai bên cổng Đại Thành có hai cổng nhỏ Kim Thanh (tiếng chuông vàng) và Ngọc Chấn (tiếng khánh ngọc) dẫn vào phía sau hai dãy nhà Đông Vu và Tây Vu.

 


KHU VƯỜN BIA TIẾN SĨ VÀ GIẾNG THIÊN QUANG

 

Vườn bia Tiến sĩ là hạng mục đặc biệt quan trọng trong Khu di tích. Chính giữa khu vườn bia là một giếng vuông được gọi là “Thiên Quang Tỉnh”. Chiếc Giếng cổ hình vuông 30m×30m, có lan can gạch xây bao quanh, hai phía Đông, Tây có bậc thang gạch đi xuồng, quanh năm nước đầy, mặt nước xanh trong phẳng lặng.

 

Giếng Thiên Quang và cổng Đại Thành 

Hai bên giếng về phía Đông và Tây là các dãy bia Tiến sĩ. Những tấm bia đá đầu tiên được khởi dựng năm 1484 dưới triều vua Lê Thánh Tông nhằm biểu dương nhân tài, khuyến khích việc học tập cho đương thời và hậu thế. Nay còn lại 82 tấm bia, trên bia khắc họ tên, quê quán của 1.304 Tiến sĩ đỗ đạt trong 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779.

Khu vườn bia TS bên Đông

 

Khu vườn bia TS bên Tây

Năm 1994, các dãy nhà che bia được xây dựng để bảo vệ bia Tiến sĩ. 8 dãy nhà che bia có kích thước nhỏ, hài hòa với hai tòa đình bia ở giữa. Hệ thống cột chống mái bằng gỗ, mái lợp ngói mũi hài truyền thống. Sự bổ sung của tám dãy nhà che bia còn khiến lớp không gian thứ ba trở thành quần thể kiến trúc hoàn chỉnh và gắn bó với nhau.


KHU THÀNH ĐẠT VÀ KHUÊ VĂN CÁC

 

Lớp không gian thứ hai là khu Thành Đạt. Khu này cũng có ba con đường dẫn vào bên trong. Con đường chính giữa nối cổng Đại Trung với Khuê Văn Các. Hai đường nhỏ hai bên lần lượt dẫn vào các cổng Bí Văn (văn chương trau chuốt, sáng sủa) và cổng Súc Văn (văn chương hàm ý và súc tích).

 

 

Năm 1805, Tổng trấn Bắc Thành là ông Nguyễn Văn Thành đã cho xây Khuê Văn Các ở Văn Miếu Hà Nội. Khuê Văn Các có kiến trúc đối xứng, giản dị và tao nhã. Bệ chân cột hình vuông, cửa sổ hình tròn. Mái có 2 tầng, lợp ngói ống. Trên gác treo biển sơn son thiếp vàng đề 3 chữ Hán là “Khuê Văn Các”, có nghĩa là “gác Khuê Văn”. “Khuê” là tên chòm sao sáng nhất trong 28 chòm sao. Chòm sao Khuê có 16 ngôi, sắp xếp giống như hình chữ Văn (文). Người xưa quan niệm sao Khuê là sao chủ của văn chương. Khuê Văn Các là biểu trưng cho nền văn hiến của Việt Nam.  Năm 2012, Khuê Văn Các đã được chọn là biểu tượng của Thủ đô Hà Nội.

 

 


KHU TIỀN ÁN

 

 

Khu Tiền án là khoảng không gian mở rộng phía trước tạo dáng vẻ bề thế, uy nghiêm cho Văn Miếu, được bắt đầu bằng Tứ trụ (bốn cột trụ lớn) và hai bia Hạ mã (xuống ngựa) hai bên.

Tứ trụ xây bằng gạch, hai trụ giữa cao hơn, trên đỉnh có hình hai con nghê chầu vào. Hai trụ ngoài đắp nổi bốn con chim phượng xoè cánh chắp đuôi vào nhau rất đẹp.

Bia  “Hạ mã” (xuồng ngựa) để nhắc nhở ai đi qua đây, dù là bậc công khanh (quan lại) hay dân thường đều phải xuống ngựa để biểu thị sự tôn kính.


HỒ VĂN VÀ VƯỜN GIÁM

 

 

Mt trong nhng đặc đim kiến trúc truyn  thng ca Vit Nam đó là môi trường hài hoà ca cây ci, nước và nhà ca. Miếu, đình và chùa thường ch cao mt tng, n dưới bóng cây ci và có h nước phía trước cng. Văn Miếu - Quc T Giám cũng mang đậm yếu t đặc trưng y. Trước cng Văn Miếu có mt h ln gi là h Văn; các ngôi nhà được bao bc bi vườn cây lâu niên gi là vườn Giám.

H Văn có din tích 12.297m2 , gia h có đảo Kim Châu, trên gò dng Phán Thy đường là nơi din ra các bui bình thơ văn ca nho sĩ kinh thành xưa. Nhà Phán Thy nay không còn. H Văn ngày nay cũng được quy hoch đẹp đẽ, khang trang hơn.

Cùng vi h Văn, khu vc phía tây Văn Miếu là vườn Giám. Khu vườn Giám đã được tu b nhiu hng mc ln: xây tường rào, trng cây xanh, thm c, vườn hoa, đường do, …


KIẾN TRÚC VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM

 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng vào cuối thế kỷ XI ở phía Nam Kinh thành Thăng Long. Di tích này là một quần thể gồm có Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Văn Miếu được xây dựng năm 1070 dưới triều Vua Lý Thánh Tông. Năm 1076, dưới triều vua Lý Nhân Tông, Quốc Tử Giám được khởi lập phía sau Văn Miếu. Trải qua bao thăng trầm của thời gian và lịch sử,  hiện di tích gần nghìn năm tuổi này vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ của thời Lê và thời Nguyễn.

Quần thể di tích hiện nay nằm trên diện tích là 54.331m2 gồm khu nội tự và ngoại tự. Khu ngoại tự gồm hồ Văn và vườn Giám. Khu nội tự chia thành 5 lớp không gian được bao bọc bởi những bức tường gạch vồ. Mỗi lớp không gian ngăn cách nhau bởi 3 chiếc cổng; cổng lớn ở chính giữa, hai cổng nhỏ ở hai bên.

 



CÁC TIỆN ÍCH


THAM QUAN VĂN MIẾU

Tư vấn và lộ trình để lên kế hoạch tốt hơn cho chuyến thăm của bạn

Xem thêm

NỘI QUY THAM QUAN

Những vấn đề cần lưu ý khi tham quan

Xem thêm

FAQS

Những câu hỏi thường gặp

Xem thêm