RELICS

Nguyễn Đương Hồ (1657 – 1740) người Tiên Du, Bắc Ninh thi đỗ Hoàng giáp khoa thi năm Chính Hòa thứ 4 (1683) đời vua Lê Hy Tông, cùng khoa với Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo (Liên Bão - Tiên Du). Hơn 40 năm quan lộ, trải qua nhiều chức quan, từ trong triều đến ngoài biên ải, Hoàng giáp Nguyễn Đương Hồ luôn hoàn thành xuất sắc cương vị của mình, tỏ rõ là một vị quan văn võ song toàn, thanh liêm đức độ. Ông đề xuất và thực hiện nhiều chính sách cải cách góp phần củng cố triều chính, kỷ cương đất nước, góp phần xây dựng đất nước hưng thịnh, dân cư yên nghiệp làm ăn. Hoàng giáp Nguyễn Đương Hồ là một trong những nhà khoa bảng người Bắc Ninh - Kinh Bắc có nhiều công lao đối với đất nước, quê hương, là tấm gương cho hậu thế noi theo.

Nhằm đánh giá toàn diện con người và sự nghiệp của nhà khoa bảng Nguyễn Đương Hồ cũng như những công hiến của ông đối với đất nước, quê hương, ngày 11/8/2016 tại Di tích Quốc gia Nhà thờ dòng họ Nguyễn Đương (làng Dương Húc, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh phối hơp với UBND xã Đại Đồng và dòng họ Nguyễn Đương đã tổ chức Tọa đàm Khoa học: “Thân thế - sự nghiệp Hoàng giáp Nguyễn Đương Hồ”.

Tham dự tọa đàm có các nhà nghiên cứu thuộc Viện Sử học Việt Nam, Trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hội khoa học lịch sử tỉnh Bắc Ninh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh, Bảo tàng Bắc Ninh, Bắc Giang, lãnh đạo UBND huyện Tiên Du, UBND xã Đại Đồng, đông đảo hậu duệ dòng họ Nguyễn Đương từ khắp các miền đất nước, đại diện các dòng họ Đàm (Từ sơn) họ Nguyễn Đăng (Liên Bão), họ Nguyễn (Phù Đổng) và bà con nhân dân thôn Dương Húc.

 

 

Qua 21 tham luận của các nhà nghiên cứu, thân thế, sự nghiệp và những đóng góp của Hoàng giáp Nguyễn Đương Hồ đối với triều Lê – Trịnh, với đất nước và quê hương đã được sáng tỏ. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu còn đề xuất ra nhiều giải pháp nhằm phát huy những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể về và liên quan đến Hoàng giáp Nguyễn Đương Hồ hiện còn trong việc giáo dục truyền thống hiếu học đối với các thế hệ con cháu, nhân dân địa phương hiện nay. Những giải pháp bảo tồn phát huy giá trị cụm di tích nhà thờ và phần mộ Hoàng giáp Nguyễn Đương Hồ cũng được đặt ra nhằm gìn giữ Di sản văn hóa quý giá cho thế hệ sau./.

 

Ảnh: Ông Nguyễn Hữu Mạo - Giám đốc Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh phát biểu tại Tạo đàm khoa học

 

Ảnh: Nhà thờ Hoàng giáp Nguyễn Đương Hồ - Tiên Du, Bắc Ninh

Nguyễn Dương Hoà


Ngày 12/10, tại nhà thờ dòng họ Nguyễn Công, Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm, Hà Nội tổ chức lễ ra mắt cuốn sách “Quận công Nguyễn Công Cơ cuộc đời và sự nghiệp” do Đại tá, nhà văn Trần Anh Thái sưu tầm và biên soạn.

Ảnh: Giới thiệu cuốn sách "Quận công Nguyễn Công Cơ cuộc đời và sự nghiệp”

Cuốn sách “Quận công Nguyễn Công Cơ cuộc đời và sự nghiệp” gồm có 7 chương. Chương 1, sách giới thiệu về vùng đất Xuân Đỉnh và dòng họ Nguyễn Công; Từ Chương 2 đến hết Chương 7, tác giả tập trung giới thiệu về Tiến sĩ Nguyễn Công Cơ (1675-1733) từ thủa thiếu niên đến khi về trí sĩ với các dấu mốc quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp như: Nguyễn Công Cơ sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống nho học, ngay từ nhỏ ông đã bộc lộ “tài năng văn chương, thơ phú nổi tiếng khắp vùng”. Vốn là người thông minh, năm 13 tuổi ông đỗ kỳ thi Hương, 19 tuổi đỗ Hương cống,.. Đến  đến năm 23 tuổi thi Hội đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi năm 1697. Ông từng giữ chức Hữu thị lang Bộ Hộ, được cử đi sứ sang nhà Thanh (1715), khi về thăng chức Binh bộ Thượng thư kiêm Tham tụng Đông các Đại học sĩ, Nhập thị kinh diên. Sau chuyển sang chức võ, hàm Thiếu bảo, Thự phủ dự, tước Cảo quận công. Theo Sử ký tục biên, Nguyễn Công Cơ tuy làm to mà không lập sản nghiệp, có tiếng là thanh bần. Lúc mất được truy tặng hàm Thái phó. Hiện nay tên tuổi quê quán được khắc trên bia khoa thi năm 1697 tại di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội.

Có thể nói, với hơn 200 trang, cuốn sách đã giới thiệu đầy đủ về thân thế, sự nghiệp của vị Tiến sĩ tài ba Nguyễn Công Cơ và những đóng góp của ông đối với đất nước.

Tại buổi lễ, đồng chí Trần Ngọc Huân - Chủ tịch UBND phường Xuân Đỉnh phát biểu “chúng ta lại có thêm một tài liệu quý là cơ sở khoa học và thực tiễn nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn Công Cơ, một bậc hiền tài của quê hương Xuân Đỉnh. Chúng tôi mong muốn rằng, cuốn sách sẽ được nhân rộng, giới thiệu rộng rãi trong nhân dân địa phương và các thế hệ con cháu dòng họ Nguyễn Công để góp phần khơi dậy niềm tự hào  về các thế hệ cha ông trong lịch sử dựng nước và giữ nước, giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn”, đồng thời xác định rõ vai trò và trách nhiệm của mỗi người, mỗi thế hệ hôm nay và mai sau trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.”

Ảnh: Trần Ngọc Huân - Chủ tịch UBND phường Xuân Đỉnh phát biểu tại buổi lễ

Mai Hương

Một số hình ảnh tại buổi ra mắt cuốn sách:

Ảnh: Đại biểu và dòng họ thắp hương trước hương án Tiến sĩ Nguyễn Công Cơ

 

Ảnh: Đại tá, nhà văn Trần Anh Thái giới thiệu về quá trình biên soạn sách

 

Ảnh: Đồng chí Trần Ngọc Huân - Chủ tịch UBND phường Xuân Đỉnh tặng hoa chúc mừng dòng họ.


Nguyễn Quý Đức (1648-1720), người xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông hiệu là Đường Hiên, 29 tuổi đỗ Thám hoa (khoa thi Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Trị này không lấy đỗ Trạng nguyên).

Tượng thờ Danh nhân Nguyễn Quý Đức

Năm Canh Ngọ (1690), Nguyễn Quý Đức làm Chánh sứ sang nhà Thanh cùng Nguyễn Danh Nho. Năm Giáp Tuất (1794) thăng Tả Thị lang bộ Lễ, làm Bồi tụng ở phủ Chúa. Năm 1695, được thăng Đô Ngự sử. Năm 1708, được thăng Thượng thư Bộ Binh, được phong Tá lý công thần. Sinh thời, ông là một vị quan thanh liêm, ông cấm đoán mọi việc phiền hà, hạch sách, nhũng nhiễu dân. Ông là người khoan dung, cảm thông với nỗi khó khăn, vất vả của dân chúng. Năm 1714, ông được thăng hàm Thiếu phó, tước Liêm Quận công. Năm 1717, thăng Thái phó Quốc lão, vinh phong Tá lý công thần.

 

Nhà thờ Tam Đại Vương (Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân, Nguyễn Quý Kính)

Lê Quý Đôn trong "Toàn Việt thi lục" viết: "Tính ông nghiêm nghị, cẩn trọng và độ lượng. Ở ngôi tể tướng hơn 10 năm, sửa sang noi theo pháp độ, cất nhắc kẻ hiền tài, là một tể tướng giỏi thời thái bình". Dân gian có câu đồng dao ngợi khen ông "Tể tướng Quý Đức, thiên hạ hưu tức" (Tể tướng Quý Đức làm thiên hạ yên vui). Đó là những phần thưởng vô giá mà bao giờ cũng cao hơn chức tước bổng lộc.

Sử thần Phan Huy Chú nhận xét: “Ông là người khoan hậu, trầm tĩnh. Ngày thường, thì tiếp ai thì dễ dàng, vui vẻ. Khi bàn luận trước mặt chá, việc gì chưa thoả đáng, ông cố giữ ý kiến mình, bàn đến ba, bốn lần, không ai ngăn được. Ông làm văn không cần trau chuốt mà ý sâu. Triều đình có chế tác gì lớn, phần nhiều do tay ông thảo. Ông làm tể tướng 10 năm, về chính sự chuộng khoan hậu…”.

 Sinh thời, Nguyễn Quý Đức làm nhiều thơ, có hai tập: "Sứ trình thi tập" và "Thi châu tập", nhưng nay chỉ còn lại gần 90 bài thơ cả Hán và Nôm, được ghi chép chủ yếu trong "Toàn Việt thi lục" và "Nguyễn Quý văn phả"./.

Sưu tầm


Đền thờ Nghiêm tướng công từ tại xóm Giếng, xã Quan Độ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là nơi thờ Tướng quân Nghiêm Kế, tổ tiên của dòng họ Nghiêm ở Quan Độ. Đặc biệt, đền còn là nơi thờ hai danh nhân khoa bảng là Nghiêm Phụ và Nghiêm Ích Khiêm.

Ảnh: Tượng thờ Tướng quân Nghiêm Kế tại nhà thờ

Theo “Nghiêm thị gia phả”, Nghiêm Kế chính là đời thứ hai của dòng họ Nghiêm sinh sống trên vùng đất Quan Độ. Khi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của triều đại Trần diễn ra lần thứ nhất năm 1258, ông đã trở thành một trong những vị tướng đảm nhận vị trí quan trọng trong cuộc kháng chiến. Sau khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, ông được triều đình ban chức Đặc tiến Phụ quốc - Bắc vệ Đại tướng quân, tước Hầu, và tấn phong là Quốc bình hành.

Đền còn là nơi thờ hai nhà khoa bảng họ Nghiêm là Nghiêm Phụ và Nghiêm Ích Khiêm - Hậu duệ của Tướng quân Nghiêm Kế. Nghiêm Phụ sinh năm Canh Ngọ - 1450. Năm 1473, Nghiêm Phụ dự khoa thi Hương và đỗ Tứ trường. Năm 1478, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9, làm quan đến chức Thừa Chính sứ. Nghiêm Ích Khiêm sinh năm Kỷ Mão (1459), mất năm Kỷ Mùi (1499). Khoa thi năm khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) đời Lê Thánh Tông, ông tham gia kỳ thi Đình và đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp). Sau ông chuyển sang chức võ, làm quan đến chức Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ.

 

Ảnh: Cổng nhà thờ Tướng quân Nghiêm Kế

Đền được xây dựng từ thời Lê, đến những năm đầu thế kỷ XX, với mục đích tiêu thổ kháng chiến nên di tích đã được dỡ bỏ. Sau khi hòa bình lập lại, con cháu dòng họ Nghiêm đã tiến hành dựng lại nhà thờ ngay trên nền đất cũ. Đền thờ ngày nay gồm các hạng mục công trình: cổng tam quan, nhà Hữu vu, Tiền tế và Hậu cung. Khu vực thờ tự chính bao gồm Tiền tế và Hậu cung được xây dựng theo kiến trúc chữ Nhị, mái được lợp ngói mũi hài. Tiền tế là nếp nhà ngang rộng 5 gian để trống, là nơi hội họp, bàn bạc các sự kiện quan trọng của dòng họ Nghiêm. Năm 2005, tại gian Tiền tế, họ Nghiêm đã cho dựng bia đá khắc hai mặt chữ Hán và chữ Quốc ngữ với nội dung tóm tắt thế thứ tổ tiên của dòng họ Nghiêm. Hậu cung được chia làm ba gian thờ, trong đó, gian giữa là nơi thờ cụ Nghiêm Kế, Nghiêm Phúc Tuấn và Nghiêm Yết. Gian bên trái và phải là nơi thờ chung tổ tiên họ Nghiêm, trong đó có hai vị đỗ Đại khoa là Nghiêm Phụ và Nghiêm Ích Khiêm. Gian giữa Hậu cung, phía sau hương án là bức tượng của Bắc vệ Đại tướng quân Nghiêm Kế uy nghiêm. Tượng làm bằng gỗ mít, cao khoảng 80cm, được tạc với tư thế chân buông cân đối phía trước, đầu đội mũ bó sát kiểu phốc đầu, mặc áo thụng dài, tay trái úp đặt lên đầu gối, tay phải cầm thẻ bài. Gương mặt tượng được tạc đầy đặn, phương phi, chân mày và mắt đều xếch lên, hai tai lớn và dày. Hằng năm, ngày 10 tháng 3 âm lịch, con cháu họ Nghiêm trên khắp cả nước sẽ tề tựu tại đền thờ để tổ chức ngày Giỗ Tổ, tưởng nhớ tổ tiên.

Cùng với các di tích khác, Đền thờ Bắc vệ Đại tướng quân là một trong những di tích tiêu biểu của làng Quan Độ. Ngày 20/4/1995, Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích quốc gia. Đây là các công trình tín ngưỡng văn hóa chứa đựng nhiều giá trị và ý nghĩa góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật truyền thống của quê hương đất nước.

Lâm Thùy Ngân


Hội nguyên, Tiến sĩ Nhữ Đình Toản (1703 - 1774) quê quán tại xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, xứ Hải Dương, nay là làng Hoạch Trạch (hay còn gọi là làng Vạc), xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, là một danh thần thời Lê - Trịnh. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học, hiếu nghĩa, nổi danh khoa bảng với bốn đời liên tiếp đã có 5 người đỗ đại khoa.

Ảnh: Cổng nhà thờ Tiến sĩ Nhữ Đình Toản

 

Năm 34 tuổi, ông đỗ Hội nguyên Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736) niên hiệu Vĩnh Hựu đời Lê Ý Tông. Khoa thi năm Bính Thìn được tổ chức dưới triều vua Lê Ý Tông. Các vị quan được triều đình cử làm nhiệm vụ tại khoa thi lần này gồm có: Phó tướng Hữu Đô đốc Cảnh Quận công Trịnh Diễn làm Đề điệu, Bồi tụng Công bộ Thượng thư Huy Lâm hầu Ngô Đình Thạc làm Tri cống cử, Bồi tụng Lại bộ Hữu Thị lang Gia Lạc bá Dương Lệ, Hộ bộ Hữu Thị lang Đông Thọ bá Phạm Minh làm Giám thí. Khoa thi Bính Thìn lấy đỗ 15 người, trong đó Nhữ Đình Toản (người làng Hoạch Trạch)  đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân.

 

Ảnh: Nhà thờ Tiến sĩ Nhữ Đình Toản

 

Năm 1738, Nhữ Đình Toản bắt đầu con đường hoạn lộ. Trong gần 35 năm, làm quan cả ngạch văn và võ, ở chức vụ nào ông cũng hoàn thành tốt chức trách, biết cương nhu, tiến thoái hợp nghi, được đương thời và hậu thế đánh giá cao. Nhữ Đình Toản từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Thái sứ (1742), Thượng thư Bộ Binh, Tham tụng, tước Bá Trạch hầu. Về sau, ông chuyển sang làm võ quan, như Hiệu điểm, rồi Tả Đô đốc, tước Trung Phái hầu. Khi về hưu, ông được đặc ban Quốc lão. Là vị quan được Chúa tin cẩn, Nhữ Đình Toản được đổi tên thành Công Toản, và được ban cho bài thơ quốc âm:

“Bấy lâu gang tấc chốn phong thần

Lục dã phen này đượm thức xuân.

Hoa quốc mấy tài thêu vẻ gấm

Lập triều đòi thuở nhắc đồng cân.

Máy sâu xướng tỏ về tri túc,

Gánh nặng còn dành sức trí thân.

Ưu ái niềm xưa tua nghĩa đấy,

Bên tai chi lãng tiếng thiều quân”.

Từ Tiến sĩ xuất thân, Nhữ Đình Toản trải nắm nhiều chức vụ trọng yếu cả bên hoàng triều và vương phủ, lên đến cực phẩm cả ban văn ban võ, được quyến cố trọng dụng, ở ngôi tể phụ hơn mười năm, đương thời khen là bậc danh thần./.

Bài và ảnh: Minh Thuý


Nguyễn Cao tên đầy đủ là Nguyễn Thế Cao, hiệu là Trác Phong còn gọi là Nguyễn Cách Pha, sinh năm Đinh Dậu (1837), trong một gia đình và dòng họ có truyền thống hiếu học và khoa bảng ở làng Cách Bi, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn thì cụ tổ dòng họ Nguyễn Thế vốn là một quan chức nhà Lê, quê ở Thanh Hoá, cụ có 6 người con trai đều làm quan cho triều đại này. Nguyễn Cao chính là con cháu của ngành tổ thứ tư của dòng họ.

Cha của Nguyễn Cao tên là Nguyễn Thế Hanh (1810-1840) hiệu Đức Kế, 19 tuổi đỗ tú tài, 22 tuổi đỗ cử nhân khoa Tân Mão, làm quan tri huyện. Mẹ là Nguyễn Thị Điềm, thuộc dòng họ Nguyễn Đức, một dòng họ quan võ lớn và danh giá ở Quế Ổ. Bà là người xinh đẹp và đức hạnh. Sau khi chồng mất, một lần bị bọn lính chòng ghẹo, bà lấy thế làm nhục, nghĩ mình thất tiết với chồng, bèn tự tử.

Nguyễn Cao mồ côi cha mẹ từ lúc lên ba, ở với bà ngoại, năm lên mười bà ngoại cũng mất, Nguyễn Cao sớm có chí tự lực và học tập siêng năng. Ông được sự dạy bảo của 2 vị thày lớn thời đó là Phó bảng Nguyễn Phẩm và Hoàng giáp Nguyễn Văn Nghị. Hai thày không chỉ truyền cho Nguyễn Cao những kiến thức Nho học mà còn bồi dưỡng cho ông tinh thần yêu nước thương dân, kiên trung bất khuất.

Nguyễn Cao vừa thông minh, vừa ham học lại chăm chỉ. Ông thi đậu giải nguyên khoa thi hương năm Đinh Mão (1867) tại trường thi Hà Nội. Từ đó mọi người gọi ông với một niềm kính phục là thủ khoa Cao. Thi đậu Nguyễn Cao không ra làm quan ngay, mà xin về quê mở trường dạy học.

Trong cuộc xâm lược Bắc kì lần thứ nhất, tháng 11 năm 1873, giặc Pháp từ Hà Nội tràn sang chiếm đóng Gia Lâm, Siêu Loại, Nguyễn Cao đã lãnh đạo nhân dân Bắc Ninh đứng lên đánh Pháp, tiêu diệt nhiều tên địch, giải phóng một vùng rộng lớn. Khi triều đình nhà Nguyễn ký hoà ước với Pháp, ông cáo bệnh về quê.

Lúc này, bọn phỉ Tầu tràn sang các tỉnh phía Bắc và các huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang. Chúng cướp phá, giết chóc rất thảm khốc. Nguyễn Cao đã tham gia tổ chức các cuộc dẹp bọn phỉ Tầu. Kế đó, ông được triều đình bổ nhiệm chức tri huyện Yên Dũng, rồi tri phủ Lạng Giang. Tiếp đó ông xin triều đình cho đi khai khẩn đồn điền ở Nhã Nam, Phú Bình để mưu lợi cho dân.

Năm 1882, thực dân Pháp đánh Bắc Kì lần thứ 2, ngay lúc đó Nguyễn Cao đã kêu gọi dân chúng tập hợp lực lượng nghĩa binh đứng dạy chống Pháp. Trong trận tấn công lớn ở Gia Lâm, Nguyễn Cao bị thương nặng, nhưng vẫn giữ vững vị trí của người chỉ huy, nêu tấm gương chiến đấu dũng cảm và quên mình cho các nghĩa sĩ noi theo. Vua nhà Nguyễn ban cho ông 20 lạng bạc để trị thương. Lành vết thương, Nguyễn Cao lại tiếp tục chỉ huy cuộc chiến đấu chống Pháp, tổ chức nhiều trận đánh ở Phả Lại, Yên Dũng, Quế Dương, Võ Giàng, Từ Sơn, Thuận Thành, rồi sang cả Ứng Hoà-Hà Tây.

Ngày 27-3-1887, tại một trận đánh ở Kim Giang (nay thuộc Ứng Hoà TP Hà Nội), ông đã bị thực dân Pháp bắt. Bọn giặc cướp nước đã tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, song bị Nguyễn Cao cự tuyệt. Với khí tiết của một sĩ phu yêu nước, ông đã rạch bụng tự sát để giữ tròn khí tiết.

Nguyễn Cao, đã cống hiến cuộc đời và sự nghiệp trọn vẹn cho công cuộc kinh bang đất nước, đào tạo nhân tài, đánh đuổi thực dân Pháp. Tên tuổi của ông đã đi vào sử sách và được đánh giá là sĩ phu yêu nước, một lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa chống Pháp, một nhà giáo mẫu mực, nhà thơ lớn.

Nguyễn Cao thực sự là một danh nhân lịch sử-văn hoá của dân tộc và của quê hương Bắc Ninh-Kinh Bắc. Tên ông đã được chọn đặt cho tên đường phố ở Thủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, TP Bắc Ninh, TP Bắc Giang và tên trường trung học cơ sở chuyên Quế Võ (trường THCS Nguyễn Cao). Ở Hà Nội có miếu Trung Liệt thờ Nguyễn Cao và nhiều nơi mà ông đến khai hoang, đánh giặc, dạy học nhân dân đều lập đền thờ. Đền Nguyễn Cao ở Cách Bi (Quế Võ) được Nhà nước xếp hạng Di tích lưu niệm danh nhân lịch sử-văn hóa cấp Quốc gia.

Trần Thùy Linh


Chiều ngày 25/5, thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội và Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội về việc Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam đề xuất phối hợp lập hồ sơ danh nhân Chu Văn An đề nghị UNESCO cùng kỷ niệm 650 năm ngày mất danh nhân Chu Văn An, Trung tâm HĐ VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức họp lấy ý kiến các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực văn hóa, lịch sử, hán nôm, đại diện Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, đại diện huyện Thanh Trì.

 

 

Ảnh: Toàn cảnh cuộc họp

Kết quả cuộc họp các nhà khoa học đều đồng thuận đề xuất việc lập hồ sơ danh nhân Chu Văn An đề nghị UNESCO cùng kỷ niệm 650 năm ngày mất danh nhân Chu Văn An./.


Sáng ngày 13/10, Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức Hội thảo Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Đạo và Truyền thống khoa bảng họ Nguyễn Đăng ở Hoài Thượng, Tiên Du, Bắc Ninh”, tại nhà Thái học di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Ảnh: Lễ dâng hương các bậc Tiên Thánh, Tiên Hiền

Tham dự Hội thảo có ông Trương Minh Tiến – Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, TS. Nguyễn Viết Chức – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long,  PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ - Phó Viện trưởng Viện Sử học, TS. Nguyễn Hữu Mùi – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, TS. Đặng Kim Ngọc - Ủy viên BCH TW Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, Nguyên Giám đốc Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám, ông Nguyễn Hữu Mạo – Giám đốc Ban Quản lý Di tích tỉnh Bắc Ninh, TS. Lê Xuân Kiêu – Giám đốc Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Ảnh: Ông Trương Minh Tiến – Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao phát biểu chỉ đạo Hội thảo

Phát biểu chỉ đạo Hội thảo ông Trương Minh Tiến – Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao chia sẻ “Hôm nay, với tinh thần đó, chúng ta tề tựu trong không gian cổ kính và ấm cúng này, cùng Trung tâm Hoạt động Văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức Hội thảo khoa học về Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo, người đã đại đăng khoa cách đây đúng 334 năm, vào năm Quý Hợi (1683), người con ưu tú của dòng họ Nguyễn Đăng “Tứ danh hương” trên quê hương Kinh Bắc giàu truyền thống văn hoá khoa bảng. Hội thảo không chỉ góp phần làm sáng tỏ về thân thế, sự nghiệp của một nhà khoa bảng, về truyền thống hiếu học của dòng họ mà còn là dịp để chúng ta tưởng nhớ tấm gương sáng của bậc tiền nhân danh vọng, góp phần bảo tồn di sản cha ông, từ đó động viên, khích lệ thế hệ trẻ noi gương, tiếp nối, nhằm giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hiến của dân tộc, quê hương, dòng họ”.

Ảnh: Toàn cảnh Hội thảo

Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo (1651-1719), quê ở Hoài Thượng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Năm 33 tuổi, Nguyễn Đăng Đạo đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Quí Hợi niên hiệu Chính Hòa 4 (1683) đời vua Lê Hy Tông.

Nguyễn Đăng Đạo từng đảm nhiệm các chức: Bồi tụng, Hộ bộ Hữu Thị lang, Lại bộ Hữu Thị lang, Ngự sử đài Đô ngự sử, Binh bộ Thượng thư,... Ông cũng được trao trọng trách dẫn đầu đoàn sứ bộ sang triều Thanh đòi lại ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp, Phổ Viên thuộc xứ Tuyên Quang. Khi mất, ông được phong tặng Lại bộ Thượng thư, tước Thọ Quận công, đồng thời được sắc phong làm Phúc thần phối thờ ở đình làng Hoài Bão.

Với 27 bài tham luận của các nhà khoa học gửi tới Hội thảo, tập trung nghiên cứu, đánh giá các nội dung sau:

1. Quê hương, dòng họ của Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo

2. Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo - Con người và sự nghiệp

3. Bảo tồn và phát huy truyền thống khoa bảng của dòng họ Nguyễn Đăng, thôn Hoài Thượng, Bắc Ninh

Ảnh:  TS. Lê Xuân Kiêu - Giám đốc Trung tâm tặng tặng phẩm cho dòng họ và chính quyền xã Liên Bão

Tại Hội thảo, các nhà khoa học tập trung thảo luận một số nội dung:

1. Nhân cách Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo;

2. Đóng góp của Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo trên các lĩnh vực hoạt động, trên các vị trí ông đã đảm nhiệm.

3. Vai trò, vị  trí của các vị đại khoa dòng họ Nguyễn Đăng  đối với Quốc Tử Giám;

4. Giá trị di sản dòng họ Nguyễn Đăng trong điều kiện hiện nay.

Ảnh: Một góc Trưng bày tại Hội thảo

Một phần không gian của Hội thảo sẽ sử dụng để trưng bày chuyên đề về quê hương, dòng họ và Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo. Trưng bày giới thiệu tới Hội thảo và công chúng gần 100 tài liệu, hình ảnh, bản vẽ kỹ thuật cùng nhiều hiện vật như: thư tịch chữ Hán, gánh sách, hòm sách, bút nghiên,…có liên quan nhằm giúp người xem hình dung thân thế, sự nghiệp Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo, các nhà khoa bảng họ Nguyễn Đăng và truyền thống hiếu học của dòng họ.


Sáng ngày 30/11, Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám phối hợp với Bảo tàng tỉnh Bắc Giang tổ chức Hội thảo khoa học Truyền thống khoa bảng tỉnh Bắc Giang với Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Ảnh: Lễ dâng hương các bậc Tiên Thánh, Tiên Hiền

Đến dự Hội thảo có đồng chí Phạm Định Phong - Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa, TS. Nguyễn Viết Chức – Viện trưởng Viện nghiên cứu Văn hóa Thăng Long,  PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ - Phó Viện trưởng Viện Sử học, TS. Đặng Kim Ngọc - Ủy viên BCH TW Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, Nguyên Giám đốc Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Th.S Đỗ Tuấn Khoa – Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, TS. Lê Xuân Kiêu - Giám đốc Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Ảnh: Đồng chí Phạm Định Phong - Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa phát biểu chỉ đạo Hội thảo

Bắc Giang từ lâu đã được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt” sản sinh ra nhiều nhân tài giúp dân giúp nước. Tiêu biểu là Tiến sĩ Thân Nhân Trung - người con của Bắc Giang đã có câu văn nổi tiếng khắc trên văn bia tại Văn miếu - Quốc Tử giám Hà Nội “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và càng lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp…”. Bắc Giang có 58 vị đỗ đại khoa, đạt học vị Tiến sĩ thời phong kiến. Các vị đỗ đạt cao, có tên trong lịch sử được khắc tên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám; ở Văn Miếu Bắc Ninh; ở các văn chỉ làng xã… và được lưu danh trong nhiều nguồn sử liệu khác. Cuộc đời và sự nghiệp của họ đã và đang được các nhà nghiên cứu  quan tâm tìm hiểu. Họ là tấm gương sáng cho truyền thống hiếu học và khoa bảng ở Bắc Giang. Hội thảo đã nhận được hơn 20 bài tham luận của các tác giả là các nhà nghiên cứu, các cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trung ương, các tỉnh bạn và tỉnh nhà. Nội dung các tham luận đã phân tích khá rõ về truyền thống khoa bảng của Bắc Giang; về các danh nhân khoa bảng được ghi danh tại bia Văn miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội.

Ảnh: Th.S Đỗ Tuấn Khoa – Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Giang báo cáo đề dẫn Hội thảo

Báo cáo đề dẫn Th.S Đỗ Tuấn Khoa – Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Giang đã khẳng định “Việc tổ chức Hội thảo khoa học “Truyền thống khoa bảng tỉnh Bắc Giang với Văn miếu-Quốc tử giám” là diễn đàn khoa học để các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Trung ương và địa phương cung cấp thêm nguồn thông tin sử liệu về thân thế, sự nghiệp của các vị đại khoa của Bắc Giang đã ghi dấu trên những tấm bia đề danh tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám; Hội thảo khoa học nhằm làm rõ những công tích, đóng góp của các vị đại khoa vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trên các lĩnh vực: Văn hoá, chính trị, ngoại giao, quân sự; Đồng thời đề xuất những phương cách, giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa liên quan đến công tích của các danh nhân khoa bảng tỉnh Bắc Giang.”

Một số hình ảnh:

Ảnh: TS. Đặng Kim Ngọc - Ủy viên BCH TW Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, Nguyên Giám đốc Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám đọc bài tham luận

Ảnh: NCS. Nguyễn Văn Tú - Phó Giám đốc Trung tâm đọc bài tham luận tại Hội thảo

Ảnh:  PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ - Phó Viện trưởng Viện Sử học tổng kết Hội thảo


HOÀNG GIÁP NGUYỄN DUY HIỂU

Hoàng giáp Nguyễn Duy Hiểu là con trưởng của Hoàng giáp Thái Tể Tuyền Quận công Nguyễn Duy Thì.

Ông đỗ Hoàng giáp năm 1628, tên của ông được khắc trên Bia Tiến sĩ khoa Vĩnh Tộ 10 (1628) đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội như sau: “Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân: Nguyễn Duy Hiểu: xã Yên Lãng huyện Yên Lãng”. Hoàng giáp Nguyễn Duy Hiểu cũng như các vị Tiến sĩ đỗ đồng khoa được lưu danh trên bia đá đều là những bậc trung thần hết lòng vì nước, vì dân.

Sau khi thi đỗ Hoàng giáp, Nguyễn Duy Hiểu theo thể lệ được bổ chức Hàn lâm viện Hiệu lý, chánh thất phẩm, hàm Tu thận doãn. Chỉ mấy tháng sau, ông được thăng tước Nghĩa Phú tử. Đến tháng 11 năm 1629, Nguyễn Duy Hiểu được thăng chức Lại khoa Cấp sự trung.

Cuối năm Đức Long 2 (1631), theo lệ quy định con cháu đại thần được hưởng tập ấm, Lại khoa Cấp sự trung Nguyễn Duy Hiểu là con trưởng của Công bộ Thượng thư kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp Tuyền Quận công Nguyễn Duy Thì được gia phong là Triều liệt Đại phu, Trung giai. Chưa đầy 2 năm, ông được thăng chức Lại khoa Đô Cấp sự trung. Hơn nửa năm sau, ông được thăng chức Ngự sử đài Thiêm Đô Ngự sử.

 

Ảnh: Bia khoa thi Vĩnh Tộ 10 (1628) đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội

 

Năm Dương Hoà 3 (1637), Nguyễn Duy Hiểu đi sứ nhà Minh cùng Giang Văn Minh và 4 vị Phó sứ là Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình, Thân Khuê. Trong chuyến đi sứ này, cái chết của sứ thần Giang Văn Minh được ghi chép rất kỹ trong Đại Nam nhất thống chí. Song không thấy ghi chép về cái chết của Nguyễn Duy Hiểu. Tuy nhiên, hiện nay dòng họ vẫn lưu giữ được tấm sắc phong của vua Lê Thần Tông ghi nhận công lao đi sứ của ông. Nội dung sắc phong như sau:

“Sắc cho: Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Ngự sử đài, Thiêm Đô Ngự sử, Nghĩa Phú tử, Tá trị Thượng khanh trung giai Nguyễn Duy Hiểu vì việc đi sứ Bắc quốc nạp cống, hoàn thành việc nước, có công, mất khi đang tại chức… Các triều thần bàn định nên gia tặng chức Hình bộ Tả Thị lang, tước hầu và ban tên thụy. Nay xét gia tặng chức Hình bộ Tả Thị lang, tước Nghĩa Phú hầu, thụy Văn Định. Vậy ban sắc này.

Dương Hòa thứ 6, ngày 23, tháng Giêng nhuận.”

Tờ sắc phong có quốc ấn “Hoàng đế chi bảo”, đồng thời còn ghi rõ: “…vì việc đi sứ Bắc quốc nạp cống, hoàn thành việc nước, có công, mất khi đang tại chức…” cho thấy vua Lê Thần Tông và triều đình thời chúa Trịnh Tráng đánh giá rất cao công lao đi sứ của Hoàng giáp Chánh sứ Nguyễn Duy Hiểu. Trong Lịch triều đăng khoa lục chép về Nguyễn Duy Hiểu như sau: “Phụng sứ, đạo tốt” (vâng mệnh đi sứ, chết trên đường). Như vậy, ta có thể thấy Nguyễn Duy Hiểu là một nhà ngoại giao tài ba có công lao lớn với đất nước.

Hoàng giáp Nguyễn Duy Hiểu là người rất tận trung với nước, có ích với dân, đạo nghĩa ngay thẳng, công đức vẻ vang. Ông còn là một nhà ngoại giao tài ba có công với nước. Với những đóng góp của mình, Hoàng giáp Nguyễn Duy Hiểu xứng đáng được cả dân tộc ghi nhớ mãi./.

 

Sưu tầm

 


TIẾN SĨ, QUẬN CÔNG NGUYỄN CÔNG CƠ

Nguyễn Công Cơ tự là Nghĩa Trai, là một trong những danh nhân văn hóa tiêu biểu của Từ Liêm xưa. Ông sinh năm 1676 tại làng Xuân Tảo (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

Năm 22 tuổi, Nguyễn Công Cơ thi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Sửu niên hiệu Chính Hòa 18 (1697) đời vua Lê Hy Tông. Hiện nay tên tuổi, quê quán của ông còn được khắc trên bia Tiến sĩ đặt tại di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội.

Sau khi thi đỗ Tiến sĩ, Nguyễn Công Cơ được triều đình bổ nhiệm giữ chức Hiệu thảo trong Hàn lâm viện. Tháng 3, năm Giáp Thân, niên hiệu Chính Hòa thứ 25 (1704), Trịnh Luân, Trịnh Phất, Đào Quang Nhai mưu làm phản, đều bị giết lúc này Hiệu thảo Nguyễn Công Cơ dò xét được tình trạng, bèn tâu lên. Chúa giao xuống cho quan lại trừng trị, bọn chúng đều bị khép vào pháp luật. Tiến sĩ Nguyễn Công Cơ được cất nhắc làm Hữu Thị lang Bộ Công.

Tháng Giêng, mùa xuân năm Ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), Tả Thị lang Bộ Hộ Nguyễn Công Cơ được cử làm Chánh sứ, đứng đầu đoàn ngoại giao của nước Đại Việt đi tuế cống nhà Thanh. Một năm sau, đoàn đi sứ trở về, “phụng chỉ dụ của vua nhà Thanh nói: Phẩm vật tuế cống, lư hương và bình hoa bằng bang, chậu bằng bạc, từ sau được theo số lượng đã định mà thay thế làm thành vàng đĩnh, bạc đĩnh rồi giao quan chức tỉnh Quảng Tây thu nhận lưu trữ, còn ngà voi và tê giác đều được miễn, người tùy hành cũng liệu lượng giảm bớt”. Chính vì thành công của đợt đi sứ này mà ông được triều đình thăng làm Thượng thư Bộ Binh.  Đến năm Canh Tý niên hiệu Bảo Thái thứ nhất (1720), tháng 4, mùa hạ, triều đình tổ chức khảo xét công trạng 10 năm của tất cả quan lại, lúc bấy giờ, Nguyễn Công Cơ đang là quan văn được dự hạng thượng khảo, kết quả ông đứng bậc nhất, được ban tước Cảo Quận công. Cũng trong năm này, khi 46 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Tham tụng trong phủ Chúa.

Là một vị quan cương trực, khi phát hiện những sai lầm trong việc tổ chức thi Hương tại lầu Ngũ Long, Tiến sĩ Nguyễn Công Cơ đã tâu lên chúa Trịnh. Chúa Trịnh bèn ra lệnh thi lại. Xét công trạng của ông, chúa Trịnh đã gia thăng Nguyễn Công Cơ làm Thiếu bảo. Tháng 5 năm 1727, Thiếu bảo Nguyễn Công Cơ chuyển sang võ giai, giữ chức Thự phủ sự. Tháng 11 năm 1733, Thiếu bảo Nguyễn Công Cơ mất, triều đình gia tặng Thái phó.

Bên cạnh sự nghiệp chính trị, Tiến sĩ, Quận công Nguyễn Công Cơ còn để lại cho đời một số trước tác như Vũ học tùng ký và 9 bài thơ chữ Hán chép trong Toàn Việt thi lục.

Nhà thờ Tiến sĩ, Quận công Nguyễn Công Cơ (hay còn gọi là Nhà thờ cụ Thượng Cáo) toạ lạc tại làng Xuân Tảo (quận Bắc Từ Liêm). Đất nhà thờ trước kia vốn là kho muối của triều đình, sau khi Tiến sĩ, Quận công Nguyễn Công Cơ mất, triều đình vua Lê ban cho dòng họ khu đất này làm nơi hương khói, phụng thờ tưởng nhớ đến vị quan thanh liêm Nguyễn Công Cơ.

Ảnh: Cổng nhà thờ Tiến sĩ, Quận công Nguyễn Công Cơ

Nhà thờ có niên đại cách đây khoảng 300 năm. Đến năm 2008, nhà thờ được chính quyền và dòng họ tiến hành trùng tu lớn. Hiện tại, Nhà thờ Quận công Nguyễn Công Cơ gồm các hạng mục công trình kiến trúc: cổng, nhà thờ. Cổng được xây dựng giản đơn, gồm 2 tầng tám mái, lợp ngói mũi hài. Từ cổng qua sân được lát gạch Bát Tràng, bước lên bậc tam cấp là đến nhà thờ.

Ảnh: Nhà thờ Tiến sĩ, Quận công Nguyễn Công Cơ

Nhà thờ là nếp nhà ba gian, xây dựng theo kiểu đầu hồi bít đốc, tay ngai, kiến trúc chữ Đinh, lợp ngói ri. Bên trong nhà thờ được chia làm 3 không gian thờ tự, trong đó, quan trọng nhất là gian giữa được dòng họ đặt hương án thờ Quận công Nguyễn Công Cơ và  song loan vua ban. Một số hoành phi như Phụ quốc hộ dân, Quốc thế thần được treo ở nhà thờ nhằm ca ngợi công lao, đóng góp của Quận công Nguyễn Công Cơ đối với dân chúng, triều đình. Hai gian còn lại trong nhà thờ là nơi treo bằng công nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa năm 1993 và tấm bảng ghi chép về thân thế, sự nghiệp của Quận công Nguyễn Công Cơ.

Ảnh: Gian thờ Tiến sĩ, Quận công Nguyễn Công Cơ

Có thể nói, cuộc đời và sự nghiệp quan trường của Quận công Nguyễn Công Cơ đã được ghi chép qua một số tư liệu chính sử như Đại Việt sử ký tục biên, Khâm định Việt sử thông giám Cương mục, Đăng khoa lục… Tựu chung lại, ông là vị quan được chúa Trịnh nhận xét là người thẳng thắn, sáng suốt, nói năng quả cảm. Chính sự thẳng thắn đó mà không ít lần Nguyễn Công Cơ bị các quan lại khác ghen ghét. Nhưng điều đó không làm ảnh hưởng đến sự tận tâm phục vụ triều đình của Nguyễn Công Cơ. Bởi thế, khi mất, “tuy là quan sang nhưng ông không lập cơ nghiệp, nên được tiếng là thanh bần”, được triều đình ban tước phong và ban cho kho muối để con cháu làm nơi hương khói tưởng nhớ đến vị quan thanh liêm này. Tiến sĩ Nguyễn Công Cơ cũng là người mở đầu cho truyền thống khoa bảng của dòng họ Nguyễn ở làng Cáo.

Hàng năm, cứ đến ngày 23 tháng 10 âm lịch, dòng họ Nguyễn Công lại tổ chức lễ giỗ và dâng hương tưởng nhớ Cảo Quận công./.

Bài và ảnh: Thu Hằng


TIẾN SĨ TRẦN CÔNG XÁN (1731-1787)

Trần Công Xán (hay còn gọi là Trần Công Thước), là người thôn Trung, xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Ông thi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời Lê Hiển Tông khi 42 tuổi. Trong sự nghiệp làm quan của mình, Tiến sĩ Trần Công Xán từng trải qua các chức vụ quan trọng trong bộ máy triều đình như Bồi tụng (1784), Đồng Bình chương sự (1787). Năm 1787, Trần Công Xán cùng với phái đoàn của triều Lê Trung hưng đi sứ Nhà Tây Sơn yêu cầu trả lại đất Nghệ An. Tuy nhiên, việc không hoàn thành, cả phái đoàn đi sứ bị giam, sau được thả về và bị đắm thuyền chết. 

Theo các cụ cao niên trong làng cho biết, sau khi vinh quy bái tổ, Tiến sĩ Trần Công Xán cùng các vị chức sắc địa phương lập nên Văn chỉ thôn Trung (xã An Vĩ) là nơi thờ các Tiên Thánh, đồng thời khuyến khích con cháu về đạo lý uống nước nhớ nguồn, tôn trọng sự học. Hiện nay, sự tích về Tiến sĩ Trần Công Xán được lưu giữ trong hai cuốn sách chữ Hán tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có tiêu đề: Tiến sĩ Trần Công Xán sự trạng (ký hiệu A.2136) và cuốn Hưng Yên tỉnh Khoái Châu phủ Đông An huyện Kim Động huyện Phù Cừ huyện các xã thần tích (ký kiệu AE.a3/5).

Ảnh: Nhà thờ Tiến sĩ Trần Công Xán

Nhà thờ Tiến sĩ Trần Công Xán được xây theo kết cấu chữ Nhị, gồm Tiền tế, Hậu cung. Tiền tế là nếp nhà 5 gian, được dựng vào ngày 12 tháng 3 năm Đinh Sửu (tức ngày 18 tháng 4 năm 1997). Tiền tế và Hậu cung cách nhau một khoảng sân nhỏ. Hậu cung là nếp nhà 3 gian, được lợp ngói mũi hài, trùng tu năm 2008.

Ảnh: Khám thờ Tiến sĩ Trần Công Xán

Gian chính giữa Hậu cung đặt khám thờ, bên trong đặt bài vị thờ Tiến sĩ Trần Công Xán, hai gian tả hữu thờ Quan Trần Triều. Hiện nhà thờ còn lưu giữ được một số di vật như: bài vịnh về Tiến sĩ Trần Công Xán được viết bằng chữ Hán dưới triều vua Tự Đức, hoành phi, câu đối ca ngợi Tiến sĩ Trần Công Xán. Đặc biệt nhà thờ còn có 1 bản sắc phong thời Nguyễn (18/11/1889) phong Tiến sĩ Trần Công Xán với nội dung: “Sắc ban cho xã An Vĩ, huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên vốn thờ Tiến sĩ Bình chương sự Trần phủ quân tôn thần. Trong việc giúp nước che chở cho dân, thần vô cùng linh ứng, nhưng từ trước tới nay chưa từng được ban sắc tặng phong. Nay trẫm kế nối mệnh lớn, nghĩ đến công lao tốt đẹp của thần, nên ban cho thần là Quang ỷ Dực bảo Trung hưng Trung đẳng thần. Lại đặc chuẩn cho (dân xã) thờ thần như cũ, mong thần hãy phù hộ che chở cho dân của ta. Kính cẩn thay! Ngày 18 tháng 11 năm Thành Thái năm thứ nhất (1889)”.

Họ tên, quê quán của Tiến sĩ Trần Công Xán được khắc tên trên bia Tiến sĩ khoa thi năm 1772 tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) và trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu Xích Đằng (tỉnh Hưng Yên).

Bài và ảnh: Hoa Ngân


TẾ TỬU QUỐC TỬ GIÁM NGUYỄN BÁ LÂN (1700 - 1785)

 

Nguyễn Bá Lân sinh năm Canh Thìn (1700) trong một gia đình có truyền thống hiếu học tại làng Cổ Đô (xã Cổ Đô, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội). Ông không chỉ là một tác gia lớn của nền văn học trung đại, mà ông còn là một nhà giáo có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đào tạo giáo dục đào tạo nhân tài của đất nước.

Làng Cổ Đô yên bình nằm bên dòng sông Đà cuộn sóng. Tạo hóa đã ban cho mảnh đất này nhiều sự “hữu duyên” nên đã có nhiều truyền thuyết ra đời từ nơi đây. Đất Cổ Đô còn nổi tiếng là đất văn học nên người dân luôn tự hào về truyền thống hiếu học, khoa bảng của làng.

Cha của Nguyễn Bá Lân là Nguyễn Công Hoàn vô cùng nổi tiếng về thơ văn thời bấy giờ. Nguyễn Công Hoàn hiệu là Mai Hiên, tên chữ là Hạo Nhiên, là người có tài văn học xuất chúng, nổi tiếng gần xa. Người ta ca tụng ông là một trong “Tràng An tứ hổ” gồm: nhất Quỳnh, nhị Nham, tam Hoàn, tứ Tuấn. Nguyễn Công Hoàn nức tiếng văn chương nhưng con đường khoa cử của ông lại không may mắn. Ông thường đi dạy học khắp nơi, đến khi Nguyễn Bá Lân 15 tuổi, ông về trực tiếp dạy dỗ con trai của mình. Nguyễn Bá Lân đã lĩnh hội được những tinh túy chắt lọc trong kiến thức mà cha truyền thụ, ông sớm nổi tiếng văn hay, chữ tốt so với chúng bạn cùng thời. Năm 31 tuổi ông đỗ đầu kỳ thi Hội, vào thi Đình, Bá Lân đỗ đầu hàng Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731).

Sau khi thi đỗ có nhiều điều kiện để thi thố tài năng, quan lộ của Nguyễn Bá Lân bắt đầu rộng mở. Năm 1737 khi đang là Đốc đồng trấn Sơn Nam, chúa tin cậy giao cho ông làm Giám quân, ông đã lập được công to, nên nhà chúa giao ông giữ chức Bồi tụng. Năm 1744, Bá Lân được bổ làm Lưu thủ Hưng Hóa, sau đó làm Đốc trấn Cao Bằng. Với tấm lòng yêu dân, trách nhiệm với biên cương của đất nước, ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, được dân chúng tin yêu, kính trọng. Vì vậy, năm 1756, ông được triều đình vời về Kinh thăng làm Thiêm Đô Ngự sử kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, đồng thời giữ chức Bồi tụng trong phủ chúa. Nguyễn Bá Lân cùng một lúc làm việc trong cung vua, phủ chúa và phụ trách Quốc Tử Giám đủ thấy ông là người có khả năng lãnh đạo và tầm quản lý vĩ mô. Đây là giai đoạn quan trọng, thăng hoa nhất của Nguyễn Bá Lân, cũng là thời kỳ ông có nhiều đóng góp nhất cho văn hóa, giáo dục của nước nhà.

Quốc Tử Giám có vai trò là trung tâm đào tạo, giáo dục nhân tài cho quốc gia nên Tế tửu thường do các bậc đại thần đạo cao, đức trọng phụ trách. Tế tửu vừa trông coi việc tế lễ vào dịp xuân thu nhị kỳ, vừa quản lĩnh việc dạy và học trong nhà Giám. Một nhiệm vụ quan trọng khác của người đứng đầu Quốc Tử Giám là xem xét, đánh giá chính xác tài, đức của Giám sinh tiến cử lên triều đình, nhằm tuyển chọn được những nhân tài xứng đáng cho đất nước. Trong thời gian Nguyễn Bá Lân làm Tế tửu Quốc Tử Giám, ông rất sát sao với việc học tập của Giám sinh, luôn công tâm, chính trực trong quá trình đánh giá học trò. Do vậy học trò trường Giám đã có nhiều người đỗ đại khoa có phần nhiều công sức dạy dỗ, giám sát của Nguyễn Bá Lân trong thời gian ông giữ Tế tửu Quốc Tử Giám như các Giám sinh: Phạm Nguyễn Đạt đỗ Hội nguyên, Phan Khiêm Thụ và Phan Lê Phiên, đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1757.

Năm 1770, Nguyễn Bá Lân xin về trí sĩ, chúa Trịnh ưng cho nhưng vẫn lưu giữ ông ở gần kinh thành để khi có việc có thể gặp ông tham khảo ý kiến. Năm 1772, Nguyễn Bá Lân được triều đình khởi phục, bổ giữ chức Thượng thư Bộ Lễ - chức quan đứng đầu, chịu trách nhiệm tổ chức và kiểm soát việc học hành thi cử, chọn nhân tài cho đất nước và các vấn đề lễ nghi triều chính.

Năm 1786, Nguyễn Bá Lân mất, được triều đình truy tặng hàm Thái tể, tước Quận công, thọ 86 tuổi. Hơn 50 năm làm quan, trải qua nhiều trọng trách trong cung vua, phủ chúa ở cả văn và võ, Nguyễn Bá Lân không chỉ là một trí thức có kiến thức uyên bác, làm việc cẩn trọng mà còn là người thanh liêm, chính trực hết lòng vì dân vì nước. Dù ông làm việc ở đâu cũng luôn tận tâm, tận lực với công việc, nên ông được vua yêu, chúa mến. Các sử gia đều đánh giá cao về ông, khen ông là người có văn học, thẳng thắn, trung thực, là một bề tôi danh vọng.

Không chỉ là một danh thần, một nhà giáo, Nguyễn Bá Lân còn là một tác gia lớn trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XVIII. Bài phú Nôm Ngã ba Hạc phú với lời văn điêu luyện, phép tắc nhuần nhuyễn, câu chữ và ý tứ độc đáo, gợi cho người đọc như đang thưởng ngoạn thiên nhiên vũ trụ đầy tươi vui và sống động là một bài phú tiêu biểu cho phú Việt Nam, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các tác gia viết phú sau này. Ngoài ra, Nguyễn Bá Lân còn có nhiều bài phú và thơ vịnh bằng chữ Hán như Giai cảnh hứng tình, Dịch đình hương xa, Trương Hàn tư thuần lư… Thơ và Phú của ông đã góp phần đưa tên tuổi ông thành một tác gia tiêu biểu của làng phú, của văn học Việt Nam.

Nguyễn Bá Lân là một danh Nho, danh thần, một nhân cách lớn, xứng đáng là một tấm gương sáng cho hậu thế noi theo./.

 

Ths. Nguyễn Thị Mai 

Phòng Nghiên cứu - Sưu tầm Trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám


NHỮNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ GHI CHÉP VỀ TẾ TỬU QUỐC TỬ GIÁM VŨ MIÊN

Vũ Miên (1718-1782) làm quan dưới triều vua Lê Hiển Tông vào nửa cuối thế kỷ XVIII. Ông được sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng ở xã Xuân Lan, huyện Lang Tài, nay thuộc thôn Ngọc Quan, xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Ông làm quan đến chức Thượng thư vì thế có nhiều tư liệu cổ ghi chép về ông.

 

Ảnh: Tượng thờ Vũ Miên tại nhà thờ

 

Quê quán Vũ Miên được ghi chép thống nhất trong các sách như: Khâm định việt sử thông giám cương mụcViệt sử cương mục tiết yếu và trên bia Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng 9 (1748) đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội đều ghi ông là người xã Xuân Quan, huyện Lang Tài.

 

Tiểu sử của Vũ Miên được ghi chép chi tiết trên thác bản bia thần đạo khắc dựng năm Cảnh Hưng thứ 43 (1782). Bia thần đạo tóm tắt tiểu sử Liên Khê hầu Vũ Miên như sau: Vũ Miên sinh năm 1718, tên húy là Trọng, tiểu tự Hy Nghi. Ông nội là Vũ Bá Xuân được tặng Triệu Phái bá, bà nội là Nguyễn Thị Bái, được tặng Tự phu nhân. Cha làm Huấn đạo, tên Vũ Khuê, được phong tặng Công bộ Hữu thị lang Lan Khê hầu. Mẹ là Đỗ Thị Đễ được phong tặng Chánh phu nhân. Bản thân ông năm 15 tuổi học ở trường huyện, 18 tuổi vào học trong Quốc Tử Giám, 31 tuổi thi Hội đỗ Hội nguyên, văn phú, sách đều giỏi loại nhất. Làm quan Đốc đồng xứ Kinh Bắc, trải giữ các chức Tri Lễ phiên, Bồi tụng, Tham tụng, kiêm hành Ngự sử đài, Binh bộ, Lại bộ. Phu nhân là Vũ Thị Mát. Con trưởng của ông là Phó Hiến sát sứ Vũ Thiều, cháu đích tôn là Tri phủ Vũ Trinh.

         

Ảnh: Nhà thờ Vũ Miên

 

Ông đỗ Tiến sĩ năm Mậu Thìn (1748), việc đỗ đạt của ông được ghi chép nhiều trong các sách: Đại Việt sử ký tục biên, Việt sử cương mục tiết yếuLịch triều hiến chương loại chí, và được khắc trên bia Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng 9 (1748) đặt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội; được khắc trên bia Kim bảng lưu phương (từ khoa Tân Hợi – 1731 đến khoa Đinh Mùi – 1787) đặt tại Văn miếu Bắc Ninh; được khắc trên bia Tục lập đề danh bi có niên đại vào năm Cảnh Hưng thứ 43 (1782). Trên chuông lớn Bích Ung đặt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội cũng có đề cập đến năm ông đỗ Tiến sĩ là năm 1748. 

 

Sau khi Vũ Miên đỗ đạt, ông liên tục làm quan dưới triều Lê - Trịnh, lần lượt qua nhiều chức quan từ nhỏ tới lớn. Các chức quan của ông được chép trong Đại Việt sử ký tục biên và Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Trong thời gian từ 1761 đến 1778 ông là kinh qua các chức: Giản quan năm 1761, Bồi tụng và Tế tửu Quốc Tử Giám năm 1767, Thự thiêm đô ngự sử năm 1768, Phó Đô ngự sử năm 1774, Hữu thị lang bộ Hình, Hữu thị lang bộ Binh năm 1777, Hành tham tụng năm 1778, khi mất (1782) ông được phong tặng hàm Thượng thư, thụy Ôn Cẩn.

 

Khi làm Tổng tài Quốc sử quán, ông được giao chủ trì biên soạn Quốc sử tục biên. Bộ sách này chép sự việc từ niên hiệu Vĩnh Trị (1676) đời Lê Hy Tông đến niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1739) đời Lê Ý Tông, gồm 6 quyển. Hoàn thành bộ quốc sử, Vũ Miên lại cùng Nguyễn Hoản, Uông Sĩ Lãng, Phan Trọng Phiên biên soạn sách Đại Việt lịch triều đăng khoa lục vào năm 1779. Sách chép danh sách đỗ đạt Trạng nguyên, Tiến sĩ từ năm 1075 đến năm 1787.

 

Vào năm 1761 Vũ Miên làm tán lý quân vụ Hưng Hóa. Lúc ấy quan quân đạo Hưng Hóa vây giặc Thành đã lâu, quân sĩ nhiều người bị nhiễm chướng dịch. Tháng 9, giặc Thành nhân cơ hội nước lên to, phá vây chạy, quan quân đuổi theo bắt được, giải về kinh sư, giết giặc Thành cùng đồ đảng, Hưng Hóa được yên. Nhờ lập được công lớn nên tới năm Giáp Ngọ - Cảnh Hưng thứ 35 (1774),“Chúa cho Bồi tụng Vũ Miên làm Phó Đô ngự sử”. Vũ Miên cũng có đóng góp trong việc dẹp giặc Lê Duy Mật. Khởi nghĩa Lê Duy Mật diễn ra suốt 30 năm với quy mô rất rộng lớn. Vũ Miên tham gia vào việc bàn công việc tiến đánh hợp ý Chúa. Nhờ vậy dẹp tan được giặc Lê Duy Mật.

 

Các sách Đại Việt sử ký tục biên, Việt sử cương mục tiết yếu đều khi Vũ Miên mất năm 1782 vì bệnh nặng.

 

Vũ Miên giữ chức Tổng tài quốc sử quán nên ông có rất nhiều các tác phẩm bằng cả chữ Hán và chữ Nôm như: Lê triều Vũ Liên Khê công Bắc sứ tự thuật kí, Đại Việt lịch triều đăng khoa lục. Ngoài ra ông còn có một số bài thơ văn được chép rải rác trong các tác phẩm: Quốc âm thi, Hồng ngư trú tú lụcCẩm tuyền vinh lụcLịch đại quần anh thi văn tậpViệt thi tục biênĐạo giáo nguyên lưu.

 

Qua những tóm lược tư liệu cổ ta có thể thấy Vũ Miên là người luôn tận hiếu tận trung, cống hiến hết mình vì xã tắc. Từ khi bước vào chốn quan trường, ông luôn tận lực làm hết trách nhiệm của mình. Có thể nói Vũ Miên là người văn võ song toàn, có sự nghiệp chính trị và quân sự vẻ vang, ông có nhiều đóng góp trong việc chính sự cũng như góp phần làm ổn định tình hình biên giới của đất nước.

Bài và ảnh: Minh Lan


ĐẠI TƯ ĐỒ XUÂN QUẬN CÔNG NGUYỄN NGHIỄM (1708-1775)

Nguyễn Nghiễm tự Hy Tư, tiểu huý Thiều, hiệu Nghị Hiên, biệt hiệu là Hồng Ngư cư sĩ, người xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.  Ông là một danh sĩ  “danh cao đức trọng”  không chỉ được triều đình sủng ái có cuộc sống vinh hoa bậc nhất chốn kinh kỳ mà các sĩ nhân ngày ấy ngưỡng vọng ông như sao Khuê, sao Đẩu.

 

 

Gia đình của Nguyễn Nghiễm có nhiều đóng góp cho truyền thống khoa bảng của mảnh đất Nghi Xuân. Từ đời cha ông là Nguyễn Quỳnh làm Chánh đội trưởng, gia đình có điều kiện nên anh em Nguyễn Nghiễm được theo đuổi sự nghiệp bút nghiên. Em trai ông là Nguyễn Huệ đỗ Tiến sĩ khoa Quý Sửu (1733). Hổ phụ sinh hổ tử, các con ông tiếp nối truyền thống thi thư của gia đình làm rạng danh thêm cho dòng họ: Nguyễn Khản đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn năm 1760, giữ nhiều trọng trách trong triều đình. Nguyễn Đề (Nễ) thi Hội trúng Tam trường làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ, hai lần đi sứ nhà Thanh.  Nguyễn Du là nhà thơ kiệt xuất, được tôn vinh là Danh nhân văn hóa thế giới nổi tiếng cả trong và ngoài nước với tác phẩm Truyện Kiều.

Ngay từ khi còn nhỏ Nguyễn Nghiễm đã là người thông minh hiếu học, các lần khảo thí ở huyện ở phủ ông đều đỗ đầu. Sau khi đỗ thi Hương năm 1723, theo đúng lệ, Nguyễn Nghiễm được vào học Quốc Tử Giám (1724). Các bài văn thi tứ trọng của ông đa số có điểm tối ưu, sau đó được yết bảng treo ngoài cửa Thái học. Danh tiếng Nguyễn Nghiễm vang khắp chốn kinh thành. Năm 24 tuổi, Nguyễn Nghiễm thi Hội xếp thứ 8, thi Đình được ban đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (tức Hoàng giáp) khoa Tân Hợi Vĩnh Thịnh 3 (1731). Vì ông là người trẻ tuổi nhất khoa thi năm đó nên còn được gọi là “thiếu tuấn”.

Sau khi thi đỗ, lúc đầu Nguyễn Nghiễm giữ chức quan văn tại triều, sau đó cải bổ chức quan Tham nhung hiệp đồng tán lý; Hiến sát sứ xứ Thanh Hoa (1737); Tham chính xứ Sơn Nam (năm 1741). Năm 1743, ông được thăng Hàn lâm viện Thừa chỉ, phong tước Xuân Lĩnh bá; năm 1746 thăng chức Hữu tham tri Bộ Công. Năm 1748 ông giữ chức Nghệ An Tuyên phủ sứ kiêm Tán lý quân vụ. Năm 1753, thăng Đô Ngự sử, kiêm giữ Đốc trấn Thanh Hoa. Năm 1754, ông về triều làm Tả giám thí khoa thi Hội; năm 1757 thăng làm Tả Thị lang Bộ Hình; năm 1759 làm Tả Thị lang Bộ Lễ. Năm 1761, triều đình tín nhiệm thăng tiếp ông giữ chức Thượng thư Bộ Công, Nhập thị Bồi tụng, Tế tửu Quốc Tử Giám. Năm 1770, ông được phong làm Thái tể. Năm 1771, Nguyễn Nghiễm xin về trí sĩ khi đã 64 tuổi. Đến năm 1772, ông lại được chúa Trịnh Sâm triệu về kinh giao chức Thượng thư Bộ Hộ. Năm 1774, ông lãnh chức Tả tướng quânTham tán quân cơ dinh Trung tiệp ở đạo Thuận Hóa. Ông mất ngày 17 tháng 11 năm Ất Tỵ (09/12/1775) tại quê nhà, hưởng thọ 68 tuổi.

Trong thời kỳ là người đứng đầu Quốc Tử Giám Thăng Long, Nguyễn Nghiễm cho làm bức hoành phi đề 4 chữ Hán “Cổ kim nhật nguyệt” và 4 chiếc chuông nhỏ, 1 quả chuông lớn là “Bích Ung chung”, rất tiếc 4 chiếc chuông nhỏ không còn,  hiện chỉ còn lại chuông Bích Ung treo tại Bái Đường của di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội. Chiếc chuông quý này vẫn được thỉnh lên mỗi khi làm lễ dâng hương các bậc Tiên thánh, Tiên hiền và trong lễ khuyến học cho các cháu học sinh.

Bên cạnh sự nghiệp chính trị, Nguyễn Nghiễm còn là một tác gia nổi tiếng có những tác phẩm có giá trị về nhiều mặt như: Quân trung liên vịnh (Các bài vịnh kế tiếp trong quân); Việt sử bị lãm (xem xét đầy đủ sử nước Việt); Cổ lễ nhạc chương thi văn tập (tập thơ văn và nhạc chương trong lễ tiết đời xưa); Lạng Sơn Đoàn thành đồ (ghi chép bản đồ Đoàn thành ở Lạng Sơn), bài phú Khổng Tử mộng Chu Công và hai bài ký trên bia Tiến sĩ khoa Canh Thìn Cảnh Hưng thứ 21 (1760) và bia Tiến sĩ khoa Bính Tuất Cảnh Hưng thứ 27 (1766).

Đại Tư đồ Xuân quận công Nguyễn Nghiễm là người thông minh mẫn tiệp, có tài thao lược nên được triều đình giao cho nhiều chức vụ trọng yếu. Dù ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng luôn đặt vận mệnh của quốc gia dân tộc lên trên hết. Đối với sự nghiệp trồng người, Nguyễn Nghiễm luôn thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc củng cố và phát triển nền học thuật của đất nước. Do vậy ông dồn tâm huyết và tình yêu thương của mình cho các nho sinh trường Giám khi ông làm Tế tửu Quốc Tử Giám. Công lao của bậc đại nho Đại Tư đồ Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm đối với Văn Miếu - Quốc Tử Giám và nền văn hiến của nước nhà vô cùng to lớn./.

Sưu tầm và biên tập: Mai Ngân Anh


TẾ TỬU QUỐC TỬ GIÁM NGUYỄN TRÍ VỊ (1670-1744)

Nguyễn Trí Vị tự là Hiền Nhu, hiệu Phúc Diên, sinh giờ Mùi ngày 14 tháng 4 năm Canh Tuất (1670) tại làng Sơn Đồng, huyện Đan Phượng, nay là xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Xã Sơn Đồng là vùng đất có truyền thống hiếu học từ lâu đời, toàn xã có trên 20 dòng họ với 8 vị đỗ Đại khoa, trong đó, dòng họ Nguyễn Trí có hai Tiến sĩ là Nguyễn Trí Cung và Nguyễn Trí Vị.

 

Cổng nhà thờ Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Trí Vị, xã Sơn Đồng, Hoài Đức, Hà Nội (p.NCST)

Sinh ra trong gia đình vốn có truyền thống đèn, sách nên từ nhỏ, Nguyễn Trí Vị rất chăm chỉ học hành. Ông cùng với người anh họ là Nguyễn Trí Cung thi đua học giỏi và đỗ cao. Mùa xuân năm Quý Mùi, niên hiệu Chính Hòa (1703), Triều đình mở khoa thi, Nguyễn Trí Cung tham dự kỳ thi và đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, được làm lễ vinh quy bái tổ rất long trọng. Đây là sự kiện khiến ông ngày đêm ra sức dùi mài kinh sử. Năm sau, Nguyễn Trí Vị đi thi Hương và đỗ Tú tài, được cử làm Tri huyện Thiên Bản (thuộc Nam Định ngày nay). Vẫn chưa đạt được mục tiêu, nên ông quyết chí tiếp tục sôi kinh nấu sử. Học tài, thi phận, khoa thi năm 1710, ông vẫn chỉ đỗ Tú tài. Hai lần thi không đỗ cao nhưng ông không những không nản chí mà quyết tâm càng cao hơn, dồn sức cho học tập càng nhiều hơn. Đến năm Nhâm Thìn niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 8 đời Lê Dụ Tông (1712) triều đình mở khoa thi. Nguyễn Trí Vị tham dự và đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân. Họ tên, quê quán của ông được khắc trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám: “Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân. Nguyễn Trí Vị: xã Sơn Đồng, huyện Đan Phượng”.

Ngay năm đó, ông được vua sắc phong khen ngợi vì đã đỗ đạt, đồng thời cử ông làm Giám sát ngự sử đạo Hải Dương, với chức trách giữ việc giám sát bách liêu, tuần án quận huyện, cứu thị hình ngục, chỉnh đốn triều nghi ở địa phương. Năm 1714, ông được thăng chức Hiến sát sứ tỉnh Thái Nguyên, hàm chánh lục phẩm. Hiến sát sứ là chức quan đứng đầu của Hiến sát sứ ty, chịu trách nhiệm quản lý việc thực hiện chức trách của Hiến sát sứ ty: đàn hặc, khám đoán, xét hỏi, hội đồng kiểm soát, khảo khoá, tuần hành.

Là vị quan tài năng lại tận tụy, cẩn trọng, ông được triều đình đánh giá cao, nên sau đó ông được triệu về kinh, sung làm Hàn lâm viện Đãi chế, chuyên việc hiệu đính văn thư, từ mệnh, lệnh chỉ, sắc phong…

Khoảng đầu năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1737), ông được sắc phong giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám, chức quan đứng đầu trường Quốc học, một trong những chức quan quan trọng đối với nền giáo dục, đào tạo nhân tài cho nhà nước và chỉ những người văn tài lỗi lạc, học vấn uyên thâm và đạo cao đức trọng mới được bổ dụng.

Chức trách của Tế tửu Quốc Tử Giám là trông coi Văn Miếu, ngày ngày đến nhà Thái học hội các học trò để giảng sách sử, hàng tháng theo đúng kỳ cho tập làm văn để gây dựng nhân tài. Ngoài ra, Tế tửu còn phải tổ chức đánh giá sự tiến bộ trong học thuật của học trò công bằng, khách quan vì những đánh giá đó là căn cứ để triều đình cất nhắc và bổ dụng. Nguyễn Trí Vị đã hoàn thành xuất sắc chức trách của một vị Tế tửu, góp phần củng cố, phát triển nền giáo dục nước nhà, được triều đình đánh giá là người có tâm thuật, hành sự cung kính trung cần.

Trong thời gian làm quan trong triều, Nguyễn Trí Vị là một người có tài, có đức, nhưng cũng luôn có ý thức góp sức xây dựng đất nước, quê hương, khích lệ chí khí hậu sinh. Năm Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716), ông là người góp phần quan trọng trong việc xây dựng Văn miếu Đan Phượng, là người soạn bài ký cho bia “Văn miếu Đan Phượng huyện bút ký” đặt tại Văn miếu Đan Phượng. Bài ký là một tư liệu quan trọng không chỉ cho thấy con người Nguyễn Trí Vị, mà còn giúp ta nghiên cứu về Văn Miếu hàng huyện, về đời sống văn hóa, đạo đức làng xã Việt   Nam đầu thế kỷ XVIII. Văn bia cho biết, việc xây dựng Văn miếu là để tôn kính, biết ơn các bậc tiên triết, thánh hiền đời xưa đã gây dựng lên phong tục, giáo hóa tốt đẹp, để cho đời sau thấm nhuần văn chương, đức nghiệp. Bài ký cho biết, Văn Miếu được các thân sĩ địa phương quyên góp tiền xây dựng chỉ trong vòng một năm, là bởi vì: “Lòng bền thì không có việc gì khó. Công trình nguy nga, tráng lệ biểu hiện lễ nhạc của một vùng xuân thu nhắc nhở muôn đời. Khiến cho đạo lớn được không ngừng phát huy chí khí của hậu sinh được luôn khích lệ. Mở rộng đường, nên tài lương đống giúp nước yêu dân. Chưa được vậy, thì cũng là khuôn phép của bậc chân nhân, trí sĩ”.

Văn bia Văn miếu Đan Phượng là một sử liệu quan trọng trong việc nghiên cứu về lịch sử hình thành và tồn tại của các di tích Nho học Việt Nam, và về truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của người Đan Phượng nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung.

Năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1738), Nguyễn Trí Vị  70 tuổi, theo lệ được về trí sĩ được gia phong Hàn lâm viện Thừa chỉ, tước Đan Sơn bá, được nhà vua vinh phong hàm Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, được khao lão thượng thọ theo tục lệ của làng.

Nguyễn Trí Vị mất năm 1743 tại quê nhà, hưởng thọ 74 tuổi. Nhà vua hay tin đã phong tặng ông là Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Công bộ Hữu thị lang Đan Sơn bá, và ban cho 500 quan tiền để làm ma chay, 200 quan cho con cháu dùng vào việc thờ cúng hàng năm. Ông ra đi trong sự tiếc thương và lòng cảm mộ của gia đình, dòng họ, nhân dân địa phương và văn thân sĩ phu cả nước. Với những cống hiến của ông cho đất nước và sự phát triển văn hóa tại Đan Phượng quê hương ông, ông xứng đáng là một nhà trí thức, một nhà giáo dục lớn của quê hương Đan Phượng.

Ths. Hoàng Mai Lan -Cán bộ Phòng Nghiên cứu – Sưu tầm

Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám


 

TẾ TỬU QUỐC TỬ GIÁM NGUYỄN CÔNG THÁI (1684 – 1758)

 

Nguyễn Công Thái húy là Phấn, tên tự là Hanh, sinh ra tại xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì, (nay thuộc phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội). Kim Lũ (hay Kẻ Lủ) nổi tiếng là vùng đất giàu truyền thống hiếu học và khoa bảng ở Thăng Long. Dòng họ Nguyễn Kim Lũ là một trong những dòng họ có nhiều người đỗ đạt khoa cử, ra làm quan giúp nước như Nguyễn Công Thái, Nguyễn Trọng Hợp, Nguyễn Siêu… nên người xưa có câu ca dao:

Nơi đây Lủ những ba làng

Lủ Trung mũ áo làm quan đại triều

Từ nhỏ, Nguyễn Công Thái nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm 18 tuổi, ông thi đỗ Giải nguyên khoa thi Hương năm Nhâm Ngọ (1702). Khoa thi năm Ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715), ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Cùng đỗ khoa này còn có nhiều danh sĩ như Nguyễn Quý Ân, Nguyễn Kiều ở Từ Liêm. Sau khi thi đỗ, Nguyễn Công Thái được triều đình điều ra Nghệ An và Thanh Hoa đảm nhận chức Giám sát Ngự sử  rồi Hiến sát sứ Nghệ An, Đốc đồng Thanh Hoa, Tham chính Kinh Bắc. Năm 1720, ông được triệu về triều vào làm việc tại tòa Đông các với chức vụ là Đông các hiệu thư. Năm 1724, ông được nhậm chức Đông các Đại học sĩ. Năm Bảo Thái 8 (1727), Nguyễn Công Thái được thăng Hồng lô Tự khanh, tri Binh phiên. Năm 1728, trong khi giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám, ông cùng với Tả thị lang bộ Binh là Nguyễn Huy Nhuận đàm phán với sứ nhà Thanh về phân định biên giới. Hoàn thành sứ mệnh cũng là lúc triều đình tổ chức khoa Đông các, ông tham dự, trúng cách, được triều đình bổ nhiệm làm Phó Đô Ngự sử kiêm Đông các Hiệu thư, đồng thời được ban tước Kim Lĩnh bá. Năm 1733, Nguyễn Công Thái được thăng chức Thị lang Bộ Công, chức quan thứ 2 sau Thượng thư của bộ chuyên quản về việc sửa chữa, xây dựng thành trì, cầu cống, đường sá cũng như thợ thuyền, quản lý núi rừng, vườn tược, sông đầm… Ông hoàn thành chức trách của mình, có nhiều công lao đóng góp với triều đình, nên năm 1741, đặc thăng Tham tụng, Lễ bộ Thượng thư, tước Kiều quận công. Năm 1744, ông được triều đình thăng làm Hộ bộ Thượng thư, hàm Thiếu bảo, ban cho thực ấp, được chúa giao trọng trách Tham tụng. Từ đó, ông được giao nhiều trọng trách khác nhau, nhiều lần đảm nhiệm Tham tụng, trải các chức Thượng thư bộ Binh, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư bộ Lại. Năm 1753, chúa tin cẩn, giao trọng trách Bảo phó để trợ giúp Thế tử Trịnh Sâm. Năm 1756, ông xin trí sĩ tại quê nhà. Năm 1758, Tham tụng, Lại Bộ thượng thư, Thái tử Thái bảo, Kiều quận công mất, được triều đình truy tặng hàm Thái tử Thái phó, ban tên thụy là Trung Mẫn, an táng tại quê nhà.

Nhà thờ Nguyễn Công Thái, Xã Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội (Ảnh p.NCST)

Hơn 40 năm làm quan, Nguyễn Công Thái từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau: từ Giám sát Ngự sử đến Tế tửu Quốc Tử Giám, Tham tụng, Thị lang bộ Công, Thượng thư Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư bộ Binh, Thượng thư bộ Lại… ông luôn chứng tỏ tài năng và trí tuệ của mình, được được vua Lê chúa Trịnh coi trọng, tin dùng. Trong thời gian làm quan, ông đã 5 lần ông xin về trí sĩ, nhưng cả 5 lần ông đều được vời ra giúp việc ngay sau đó. Đặc biệt, trong thời gian ông đảm nhiệm chức Tế tửu (như Hiệu trưởng) Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam, ông đã có những đóng góp không nhỏ đối với sự phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài ở nước ta.

Nguyễn Công Thái được bổ nhiệm Tế tửu Quốc Tử Giám vào khoảng năm 1728 với trách nhiệm Phụng mệnh trông coi nhà Văn Miếu, rèn tập sĩ tử, phải chiếu theo chỉ truyền năm trước, hằng tháng theo đúng kỳ cho (học trò trường Giám) tập làm văn, để gây dựng nhân tài, giúp việc thực dụng cho nước(1). Theo quy định thời kỳ này, những người được bổ nhiệm chức Tế tửu Quốc Tử Giám phải là những bậc đại khoa, văn chương, trí tuệ uyên bác, đạo đức trong sáng. Nguyễn Công Thái là một quan chức mẫn cán, tài năng, chắc chắn không phụ lòng mong đợi của triều đình, hoàn thành xuất sắc chức trách của người quản lý và người thầy giáo, đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước.

Nguyễn Công Thái không chỉ là vị quan tài năng, hết lòng phụng sự đất nước mà còn là một tác gia. Ông đã có 7 lần soạn và nhuận sắc các bài kí được khắc trên bia đá tại ở hai địa điểm thiêng liêng, biểu dương cho tinh thần tôn sư trọng đạo, khích lệ truyền thống hiếu học của đất nước là miếu thờ Chu Văn An và Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Năm 1717, Nguyễn Công Thái là người soạn văn bia Văn Trinh công Từ bi kí(2) cho Miếu thờ Chu Văn An tại xã Huỳnh Cung tổng Cổ Điển huyện Thanh Trì (Hà Nội). Bài ký ghi về hành trạng, công tích của Chu Văn An, một vị Tư nghiệp Quốc Tử Giám nổi tiếng dưới triều vua Trần Minh Tông (1324 – 1329), một danh sư đồng thời là một danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. Bài ký là tư liệu quý cho chúng ta tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của một vị Tư nghiệp Quốc Tử Giám, một danh nho, người thầy đạo cao đức trọng, về lịch sử ngôi miếu thờ, cũng như truyền thống văn hóa uống nước nhớ nguồn của con người Việt Nam. Văn bia cũng cho chúng ta hiểu thêm được về bản thân con người Nguyễn Công Thái.

Đáng chú ý là 6 bài ký Văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám do Nguyễn Công Thái nhuận sắc, đó là các bài kí các khoa thi năm 1724, 1743, 1746, 1748, 1752 và 1754. Đây là những đóng góp lớn của Nguyễn Công Thái đối với nền văn chương nước nhà, bởi những bài ký trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám không chỉ được coi là những sử liệu quan trọng, mà còn là những áng văn chương uyên bác, mẫu mực (thể loại bi ký) còn lại ở nước ta. Thông thường, những người nhuận sắc – người sẽ hiệu chỉnh nội dung, rà soát sửa chữa văn phong, câu chữ để đảm bảo cho bài ký không chỉ chính xác về nội dung, tư tưởng mà còn chau truốt, hay về nghệ thuật, phải là người học vấn tinh thông, văn chương uyên bác. Nguyễn Công Thái là người tài giỏi trong lĩnh vực văn học và phải được Chúa tin dùng(3) và vì vậy ông được tín nhiệm giao cho việc quan trọng này.

Con người và sự nghiệp của ông đã được triều đình ghi nhận không chỉ ở những chức trách mà ông được giao phó, mà còn ở những sắc phong tặng cho ông. Nội dung 10 sắc phong liên quan đến Nguyễn Công Thái hiện còn giữ được cho chúng ta rõ hơn về nhân cách, con người ông. Các sắc phong tặng ông đề ghi những dòng khen ngợi: “Người có ngôn luận sắc bén, góc cạnh, phong thái riêng” hay “người có tâm thuật, có tài trong công việc, tiên phong, trung chính, chăm chỉ” hay “tính ông trong sạch, giản dị, thẳng thắn, có công to lập ngôi chúa nên được Ân vương rất tin cậy quý trọng”.

Những tư liệu như văn bia, sắc phong, gia phả hiện còn là bằng chứng chân thực về Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Công Thái, một danh thần, một nho sĩ thế kỷ XVIII, đồng thời là di sản văn hóa quý báu của dân tộc. Con người và sự nghiệp của Tiến sĩ, Tế tửu Quốc Tử Giám là bài học quý báu, là tấm gương sáng cho thế hệ sau học tập. Nguyễn Công Thái xứng đáng là một danh nhân văn hóa, niềm tự hào của người dân Kim Lũ Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung./.

Lâm Thuỳ Ngân - Cán bộ Phòng Nghiên cứu – Sưu tầm

Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám


TẾ TỬU QUỐC TỬ GIÁM PHÙNG KHẮC KHOAN (1528-1613)

 

Phùng Khắc Khoan, tự Hoằng Phu, hiệu Nghị Trai, Mai Nham Tử, là người làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Tương truyền, ông là em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Là người nổi tiếng có văn tài, kiêm thông cả thuật số nhưng ông không đi thi và ra làm quan cho nhà Mạc. Dưới triều vua Lê Trung Tông (1548-1556), Phùng Khắc Khoan theo Lê Bá Lỵ phù Lê diệt Mạc. Năm 29 tuổi, ông đỗ đầu khoa thi Hương ở Yên Định - Thanh Hóa (1557), từng giữ chức Ký lục chuyên trông coi quân dân bốn vệ, tham dự việc cơ mật tại Ngự dinh của Thái sư Trịnh Kiểm. Ông làm quan đến chức Cấp sự trung Binh khoa, Cấp sự trung bộ Lễ, sau vì trái ý vua bị giáng chức ra Thành Nam (Nghệ An) rồi lại được triệu hồi. Năm Canh Thìn (1580), đời Lê Thế Tông, Phùng Khắc Khoan dự thi Hội, đỗ Hoàng Giáp, được bổ làm Đô cấp sự trung, năm 1585, được thăng Hữu Thị lang Bộ Công, rồi Thừa chính sứ Thanh Hóa. Năm 1597, ông được cử làm Chánh sứ sang triều Minh (Trung Quốc), khi về nước được thăng Tả Thị lang Bộ Lại, tước Mai Lĩnh Hầu, đến năm 1600 giữ chức Thượng thư bộ Công kiêm Tế Tửu Quốc Tử Giám, trước khi về trí sĩ, chuyển sang làm Thượng thư Bộ Hộ, tước Mai Quận Công.

 

 

Phùng Khắc Khoan là một nhà chính trị, ngoại giao xuất sắc. Mặc dù sống trong giai đoạn nội bộ đất nước đầy biến động nhưng ông luôn thể hiện rõ bản lĩnh của một trí thức đất Việt, ứng đối tài ba, bảo vệ quân mệnh quốc uy, khiến vua tôi Trung Quốc phải nể phục. Năm 1596, sau khi nhà Mạc bị Trịnh Tùng dồn ép ra khỏi Thăng Long, chạy lên biên giới Cao Bằng. Viện cớ nhà Mạc tố cáo: Vua Lê là vua rởm, nhà Minh sai sứ đem điệp văn sang ta đòi con cháu nhà Lê đến ở ải quan khám xét. Năm 1597, phái bộ tra xét của nhà Minh đến nơi, Vua Lê dẫn chủ tướng tới trình diện. Đoàn sứ Đại Việt do Phùng Khắc Khoan dẫn đầu được cử sang Yên Kinh (Bắc Kinh) cống nạp và xin sắc phong. Đến nơi, nhân gặp ngày sinh nhật của Vua Minh, Phùng Khắc Khoan đã làm một lúc 30 bài thơ chúc mừng. Xem xong, Vua Minh đặt bút phê khen rằng: “Hiền tài không chỗ nào là không có… Rất đáng khen” (Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú).

Bấy giờ, theo lệ cũ, nhà Mạc phải cống tượng người vàng cúi đầu song khi đến Yên Kinh, Phùng Khắc Khoan lại mang theo cống vật là tượng người vàng đầu không cúi mà nhìn thẳng. Thấy vậy, quan quân nhà Minh rất khó chịu, gây khó dễ không cho ông vào chầu. Phùng Khắc Khoan liền cãi rằng: “Nhà Mạc cướp ngôi danh nghĩa là nghịch, nhà Lê khôi phục lại, danh nghĩa là thuận. Nhà Mạc dâng người vàng cúi đầu thay mình, đã là may mắn. Nay lại bắt nhà Lê theo lễ nhà Mạc thì lấy gì để khuyên việc chiêu an và trừng giới việc trách phạt được” (Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú). Đuối lý, nhà Minh buộc phải chấp nhận, Phùng Khắc Khoan ung dung bước vào chầu, lĩnh ấn sắc đem về nước. Từ đó trở về sau nước ta không phải cống nạp tượng người vàng cúi đầu nữa. Cũng trong lần đi sứ này, dù vào tuổi “xưa nay hiếm”, ông còn làm thơ, ứng đối với sứ thần Triều Tiên, khiến họ nể phục tài năng, giúp khai quang mối quan hệ hữu hảo Việt - Triều.

Bên cạnh sự nghiệp chính trị, Phùng Khắc Khoan còn để lại nhiều tác phẩm văn học phản ánh hoài bão, khí phách và nỗi trăn trở của của một trí thức yêu nước. Hơn 500 bài thơ,văn còn lại bằng chữ Hán và chữ Nôm của ông đều mang tâm sự của một con người muốn nhập cuộc để có thể đổi loạn thành trị, cứu nguy thành an, vực lại kỷ cương, đạo đức xã hội đã một thời sa sút. Thơ chữ Hán của ông chuẩn mực, khuôn thước, thơ chữ Nôm giản dị, giàu phong vị, là một dấu ấn trong sự phát triển của thơ Nôm Việt Nam.

Phùng Khắc Khoan không chỉ là một tác gia nổi tiếng mà còn là một người Thầy đầy trách nhiệm với dân với nước. Khi làm Tế Tửu Quốc Tử Giám, ông làm việc hết lòng với vai trò chủ tế và chăm lo đào tạo nhân tài cho đất nước. Khi về trí sĩ tại làng quê, ông cho mở “Hoằng đạo thư đường” dạy dân chữ nghĩa, cùng bạn bè thưởng thức, đàm đạo văn chương, mở mang dân trí và cho dựng Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều ở chùa Thày, tô điểm cảnh quan làng quê thêm đẹp. Tương truyền, ông còn dạy dân làng cách làm cày bừa, đào mương, khơi ngòi, dẫn nước vào đồng, chống úng, cứu hạn, trồng trọt và dạy họ cả nghề dệt lụa, đan lưới để đời sồng ngày thêm no ấm.

Phùng Khắc là một nhà giáo dục, văn hóa, ngoại giao tài hoa ở thế kỷ XVI. Đương thời ông được Trịnh Tùng rất kính trọng, gọi là “Phùng Tiên sinh”, còn nhân dân, để tưởng nhớ công lao, trí tuệ của ông đã suy tôn ông là “Trạng Bùng”. Mai Quận Công Phùng Khắc Khoan mất tại quê nhà ngày 24 tháng 9 năm Quý Sửu (1613), thọ 86 tuổi, được phong Thái phó và lập miếu thờ tại quê hương./.

Hoàng Thị Tuyết Hương

Cán bộ phòng Nghiệp vụ Thuyết minh, Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám

 


TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM NGÔ SĨ LIÊN

 

Ngô Sĩ Liên sinh ra tại làng Chúc Lý, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên nay là thôn Chúc Lý, xã Ngọc Hòa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Hiện nay, chưa có tài liệu nào cho biết ông sinh năm nào, nhưng theo Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, cũng như tấm bia hiện còn lưu giữ tại quê thì ông thọ 99 tuổi. Ngô Sĩ Liên từng tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Thái Tổ lãnh đạo chống lại giặc Minh. Sau khi nước nhà độc lập cũng là lúc nhà Lê mới thành lập, cần người tài giỏi, nên đã tổ chức nhiều khoa thi kén chọn quan chức. Năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3 (1442), Lê Thái Tông tổ chức khoa thi Tiến sĩ đầu tiên của triều Lê.  Khoa thi này có 450 người dự thi và trúng tuyển được 33 người,  trong đó có Trạng nguyên Nguyễn Trực, Bảng nhãn Nguyễn Như Đổ, Thám hoa Lương Như Hộc. Ngô Sĩ Liên đỗ đầu hàng Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, tên ông hiện được khắc ghi trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

 

Sau khi thi đỗ, ông được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình. Dưới triều vua Lê Nhân Tông (1443-1459), ông giữ chức Đô Ngự sử. Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, mục Quan chức chí, Đô Ngự sử là chức quan đứng đầu Ngự sử đài, cơ quan chuyên trách giữ phong hóa pháp độ. Ngự sử đài chịu trách nhiệm: Đàn hặc các quan, nói bàn về chính sự hiện thời. Phàm các quan làm trái phép, chính sự hiện thời có thiếu sót, đều được xét hặc trình bày, cùng là xét bàn về thành tích của các nha môn.. chức danh rất trọng.

Đời Lê Thánh Tông (1460-1497) ông từng giữ chức Lễ bộ Hữu Thị lang, là  chức quan đứng hàng thứ 2 sau Thượng thư. Bộ Lễ là bộ chuyên công việc về lễ nghi, tế tự, yến tiệc, trường học, thi cử, áo mũ, ấn dấu, chương tấu, bài biểu, đi sứ... Năm Quang Thuận thứ 12 (1471), Lê Thánh Tông lấy Ngô Sĩ Liên vào làm Sử quan tu soạn, người chịu trách nhiệm trực tiếp biên soạn sử trong Quốc sử viện, cơ quan giữ công việc về biên soạn sử sách. Lưu Tri Cơ, sử gia nổi tiếng đời Tống (Trung Quốc) đã nêu lên yêu cầu thiết yếu về người làm công tác biên soạn lịch sử là phải có ba sở trường: tài năng, học lực và tri thức. Lê Thánh Tông, vị vua anh minh, tài lược đã chọn Ngô Sĩ Liên làm sử quan, hẳn đã đánh giá đúng tài năng và đạo đức của ông. Quả không phụ lòng tin của Vua, 8 năm sau, năm Hồng Đức 10 (1479), bộ Quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư mà ông biên soạn đã hoàn thành.

Bộ Đại Việt sử ký toàn thư được Ngô Sĩ Liên biên soạn trên cơ sở 2 bộ sách Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên. Ngô Sĩ Liên đánh giá cao những nhà sử học tiền bối này, nhưng cũng nêu lên những nhược điểm của hai bộ quốc sử, để từ đó hiệu chỉnh, bổ sung. Bộ quốc sử do Ngô Sĩ Liên hoàn thành gồm 15 quyển, chia thành hai phần: Phần một (ngoại kỷ), gồm 5 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến hết thời Bắc thuộc (năm 938). Phần hai (bản kỷ) gồm 10 quyển, chép từ thời Ngô Quyền dựng nước (năm 938) đến khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi (năm 1428), trong đó, phần biên soạn mới của Ngô Sĩ Liên là phần Ngoại kỷ, chép lịch sử từ họ Hồng Bàng cho đến hết đời An Dương Vương - giai đoạn lịch sử lần đầu tiên được chính thức đưa vào quốc sử.

Qua các lời nhận xét của ông trong quá trình biên soạn về các sự kiện, nhân vật, cũng như phương pháp biên soạn sử của ông, các nhà nghiên cứu sau này đều thống nhất đánh giá, ông là một nhà sử học bậc thầy, là người có khả năng nhận xét tinh tế, trí tuệ tuyệt vời và là người có lòng yêu nước và tự hào dân tộc mãnh liệt. Bộ Đại Việt sử ký toàn thư của ông đã là cơ sở quan trọng, đặt nền móng cho bộ Quốc sử đầu tiên trọn vẹn còn lại cho đến ngày nay, một tư liệu không thể thiếu của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, giáo dục, một di sản quý giá của nền văn hóa Việt Nam.

Không chỉ đóng góp trong lĩnh vực sử học, Ngô Sĩ Liên còn là một người thầy, một nhà giáo dục có nhiều đóng góp cho nền giáo dục nước nhà. Trong thời gian ông làm Tu soạn ở Viện quốc sử, ông còn giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Tư nghiệp là chức quan thứ 2 ở Quốc Tử Giám, sau Tế tửu và là quan chịu trách nhiệm chính đối với chương trình dạy, học ở Quốc Tử Giám. Chưa có những tài liệu cụ thể về những đóng góp của ông trong việc đào tạo nhân tài ở trường, nhưng chúng ta đều biết, giáo dục, khoa cử thời Lê Thánh Tông được coi là đạt đỉnh cao trong lịch sử khoa cử thời quân chủ. Chỉ trong vòng gần 30 năm dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497), giáo dục, khoa cử Việt Nam đã lựa chọn được hơn 500  vị Đại khoa qua 12 khoa thi. Đây cũng là thời gian ông đảm nhiệm chức vụ Tư nghiệp Quốc Tử Giám, trường học cao cấp, cơ quan quản lý giáo dục lớn nhất, quan trọng nhất của đất nước, là nơi đào tạo nhân tài, quan lại cấp cao cho bộ máy quản lý đất nước. Đóng góp vào sự hưng thịnh của giáo dục nước nhà thời kỳ này, hẳn không thể thiếu công sức, trí tuệ của ông.

Sự kiện ông tham gia làm giám khảo khoa thi năm Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức 9 (1478) là một minh chứng khẳng định nhận định trên. Văn bia Tiến sĩ khoa thi năm 1478 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám ghi rõ chức vụ của ông tại khoa thi này là Độc quyển cùng với những nhà khoa bảng danh giá là Tiến sĩ, Hàn Lâm viện Thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung, Bảng nhãn,Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Như Đổ, Thám hoa, Đông các Học sĩ Quách Đình Bảo. Độc quyển là một chức quan rất quan trọng trong khoa thi, chịu trách nhiệm đọc bài thi sách đối của thí sinh trước khi trình lên Vua cùng những lời đánh giá, nhận xét, để từ đó nhà vua chọn lựa cao thấp. Khoa thi này chọn được 62 nhà khoa bảng với đầy đủ danh hiệu: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ… Đây là khoa thi chọn được nhiều nhân tài nhất trong lịch sử khoa cử phong kiến Việt Nam, trong đó có những danh nhân nổi tiếng như Vũ Quỳnh, Bùi Xương Trạch…Đặc biệt, Vũ Quỳnh là một trong những người góp phần hoàn thiện Bộ Đại Việt sử ký toàn thư của ông sau này.

Quan điểm về phương pháp tuyển chọn nhân tài của ông được thể hiện rõ qua những nhận xét đánh giá của ông trong bộ Quốc sử: chọn người bằng khoa cử thì văn học không thể thiếu được. Phương châm để lựa chọn người hiền tài cho đất nước này hẳn đã giúp Lê Thánh Tông xây dựng được quốc gia phồn thịnh.

Triều liệt Đại phu, Quốc Tử Giám Tư nghiệp kiêm Quốc sử Tu soạn Ngô Sĩ Liên nghỉ hưu và mất tại quê nhà. Dân làng kính trọng, lập đền thờ và hàng năm cúng tế vào ngày 20 tháng tám âm lịch. Dù cho đền thờ của ông do thời gian không còn, nhưng tên ông cùng những đóng góp của ông cho văn hóa, giáo dục nước nhà mãi mãi trường tồn trên bia Tiến sĩ, trên đường phố, các trường học ở Thủ đô Hà Nội và cả nước. Ông xứng đáng là một nhà giáo dục, nhà sử học lớn, một danh nhân của Hà Nội./.

Ths. Lê Thị Thu Hương

Cán bộ Phòng Thuyết minh – Nghiệp vụ, Trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám


TẾ TỬU QUỐC TỬ GIÁM NGUYỄN TRỰC (1417-1473)

Nguyễn Trực tự là Công Đĩnh, sinh năm 1417, người xã Bối Khê, huyện Thanh Oai (nay là thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội). Ông xuất thân trong một gia đình dòng dõi, có truyền thống khoa bảng (Cụ nội làm Hàn lâm viện Thị giảng, ông nội là Nho học Huấn đạo, cha là Quốc Tử Giám Giáo thụ). Tương truyền, khi ông chưa đầy 10 tuổi đã nổi tiếng thần đồng, 12 tuổi đã làu kinh sử, thích làm thơ phú, 18 tuổi đỗ đầu kỳ thi Hương ở Sơn Tây, 26 tuổi đỗ Đình nguyên khoa thi Nhâm Tuất năm 1442, trở thành vị Trạng nguyên đầu tiên của triều Lê, được lưu danh trên bia Tiến sĩ đặt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

 

Description: http://api.vanmieu.gov.vn/rivera-resource/media/upload/2016/08/26/nha-tho-nguyen-truc-1-20160818091546598-20160826145858636.jpg

Nhà thờ Trạng nguyên Nguyễn Trực, xã Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Nội (Ảnh P.NCST)

 

Với kiến thức học rộng, tài cao, Nguyễn Trực đã đem hết tài năng của mình ra phò nhà Vua, giúp nước. Dưới thời Lê Nhân Tông, ông được bổ làm Trực học sĩ viện Hàn lâm, kiêm Vũ kỵ úy, thăng An phủ sứ phủ Nam Sách, khi về triều được bổ chức Thị giảng, kiêm Ngự tiền học sinh cục thứ hai viện Hàn lâm, tiếp đó giữ chức Trung thư Thị lang ở sảnh Trung thư (Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nxb Giáo dục, trang 282).

Nguyễn Trực từng vâng mệnh đi sứ Trung Quốc, tài ứng đối khôn lường của ông khiến nhà Minh vị nể, khen tặng là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Ông là một nhà thơ danh tiếng, một thành viên ưu tú của Hội Tao đàn, được Vua Lê và quần thần kính trọng. Dân gian kể rằng mỗi khi vua Lê Thánh Tông làm xong một bài thơ mới thường đưa cho ông xem trước để ngâm vịnh.

Nguyễn Trực không chỉ là một vị quan thanh liêm, một nhà chính trị xuất sắc, thường được vua mời tham gia nghị bàn những việc cơ mật của triều đình mà còn là một nhà giáo ưu tú của đất nước. Năm Hồng Đức thứ 4 (1473), ông được thăng Gia hạnh đại phu, Thừa chỉ viện Hàn lâm, kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám(2), trở thành người đứng đầu trường Quốc học lớn nhất đất nước. Đây là một cơ hội lớn để ông biến những tư tưởng cầu hiền – trị quốc trong bài văn đình đối (viết năm Đại Bảo 1442) của mình trở thành hiện thực.

Những tư tưởng này chính là các tiêu chí đào tạo nhân tài, là những luận bàn về đạo của người Quân tử và kẻ Tiểu nhân trong đó khẳng định rõ đường lối chiêu hiền, đãi sĩ (dùng người quân tử, đẩy lui kẻ tiểu nhân) nhằm “trao chức vụ cho hiền tài, giao công việc chỉ theo năng lực cho những người có đủ 3 yếu tố: Trí - Nhân – Dũng, tạo điều kiện cho họ có thể cống hiến cho đất nước.

Muốn vậy, các bậc Đế vương cần xa lánh tiểu nhân, nêu gương sáng về tài đức cho trăm họ và giỏi thuật dùng người. Ông nói: "trí, nhân, dũng" là ba đức lớn lao trong thiên hạ, không có "trí" thì không thể biết người, không có "nhân" thì không thể chọn người, không có "dũng" thì không thể dùng người. Lấy "trí" biết người thì có thể biết rõ ràng và biết được thực tài của họ; lấy "nhân" chọn người thì không bỏ người tài ngay trong lúc họ khốn cùng, ắt chọn được lòng thành của họ; lấy "dũng" mà dùng người thì tin dùng mà chẳng nghi ngờ, ắt thấy được chuyên tâm của họ. Nếu có đủ ba điều "trí, nhân, dũng " thì nghĩa lý của việc "dùng người, bỏ người" sáng tỏ và lòng yêu ghét chính trung (Văn Đình đối của Trạng nguyên Nguyễn Trực khoa thi năm 1442do PGS.TS Nguyễn Văn Thịnh dịch)

Đề cập đến cách tìm người Hiền, Nguyễn Trực cũng chỉ rõ:“Người hiền tài nơi dân chúng của muôn nước cũng là bề tôi của bậc Đế vương”. Vì vậy thì nhà Vua muốn trọng dụng người tài thì trước hết phải “gần gũi bề tôi cương trực, dùng kẻ sĩ chính trực để dẫn Vua đi vào đường đúng, đặt Vua ở chỗ không sai” và “chỉ có bậc đại nhân mới có thể sửa sai trái trong lòng Vua”. Từ quan điểm đó, ông đưa ra kết luận:“Vua có nhân, không ai không nhân; Vua có nghĩa, không ai không nghĩa; Vua chính không ai không chính. Trước nhất Vua chính thì nước mới định được”.

Chính nhờ những nhận định thẳng thắn, xác đáng này mà bài văn Đình đối của ông đã giật giải Nguyên trong kỳ thi năm 1442.

Nguyễn Trực qua đời vào ngày 28 tháng 12 năm Hồng Đức thứ 4 (1473) tại Thăng Long, hưởng thọ 57 tuổi. Tài năng và công lao của ông mãi được sử sách và dân gian lưu truyền./.

Ths. Đặng Anh Vân

Cán bộ phòng Nghiệp vụ Thuyết minh, Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám


TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN TRỰC (1417-1473)

Trạng nguyên Nguyễn Trực tự là Công Dĩnh, hiệu là Hu Liêu, nguyên quán ở xã Bối Khê huyện Thanh Oai, sau rời đến xã Nghĩa Bang, phủ Quốc Oai (nay là xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai, Hà Nội). Nguyễn Trực sinh ngày 16 tháng 5 năm Đinh Dậu (1417) tại Am Long Đẩu, núi Phật Tích, trong một gia đình danh gia vọng tộc, nối đời khoa bảng. Cụ nội của Nguyễn Trực là Nguyễn Hữu từng giữ chức Hàn lâm viện Thị giảng kiêm Thẩm hình viện sự dưới triều Trần. Ông nội là Nguyễn Bính - một người nổi tiếng tài ba đức độ, từng giữ chức Huấn đạo phủ Ứng Thiên. Thân sinh ra Nguyễn Trực là Nguyễn Thì Trung là người Nho học, đạo đức trong sáng, nghiêm cẩn. Khi giặc Minh sang xâm lược nước ta, Nguyễn Thì Trung nhận thấy mảnh đất Nghĩa Bang, phủ Quốc Oai là nơi “Long hội quần anh”, nên đã ôm sách chạy về đây và kết duyên với bà Đỗ Thị Trừng, vốn là cháu xa của Phụng Thánh phu nhân triều Trần, sinh ra Nguyễn Trực.

 

Description: http://api.vanmieu.gov.vn/rivera-resource/media/upload/2016/08/26/nha-tho-nguyen-truc-20160818090953451-20160826151544517.jpg

Nhà thờ Trạng nguyên Nguyễn Trực, xã Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Nội (Ảnh P.NCST)

 

Nguyễn Trực tuy xuất thân từ một gia đình công thần, nhưng nhà nghèo. Thuở nhỏ chăn trâu giúp bố mẹ, ông thường ngồi trên mình trâu mà đọc sách. Nguyễn Trực từ bé đã nổi tiếng khắp vùng là thần đồng. Mười hai tuổi, Nguyễn Trực đã giỏi văn thơ,mười tám tuổi đỗ đầu thi Hương. Trong kỳ thi, cả ba trường, nhất, nhì, ba ông đều đỗ xuất sắc. Năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo 3 (1442), ông cùng 450 cống sĩ dự kỳ thi Hội, là một trong 33 người trúng cách, vào dự thì Đình. Hoàng thượng ban cho Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên. Khi đó ông mới 26 tuổi.

Nguyễn Trực là vị Trạng nguyên khai khoa của triều Lê. Sau khi thi đỗ Trạng nguyên Nguyễn Trực đã kinh qua các chức vụ quan trọng của triều đình như: Chiêu nghị Đại phu, Hàn lâm viện Trực học sĩ kiêm Vũ kỵ đô uý, An phủ sứ Nam Sách, rồi được nhậm chức Hàn lâm viện Thị giảng, Thiếu trung Đại phu. Nguyễn Trực đã từng giữ chức Trung thư Thị lang, Ngự tiền học sinh Nhị cục. Ông nhận lệnh vua Lê Nhân Tông làm Chánh sứ cùng Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường làm Phó sứ sang nhà Minh. Tương truyền khi ấy, vương triều phương Bắc có mở khoa thi, với tài ứng đối kiệt xuất và kiến thức uyên bác, Nguyễn Trực đã dự thi và đỗ Trạng nguyên, Trịnh Thiết Trường đỗ Bảng nhãn. Vua Minh ban cho các ông cẩm bào và vinh quy về nước, hoàn thành sứ mệnh bang giao và trở thành vị Lưỡng quốc Trạng nguyên thời Hậu Lê ở nước ta. Năm 1457, Nguyễn Trực được cử  tiếp sứ nhà Minh sang nước ta. Sứ thần Hoàng Gián hỏi vặn mọi điều, ông giảng giải phân minh lưu loát, khiến vị sứ thần nhà Minh vô cùng thán phục. Cùng năm ông được vua ban Trung trinh Đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ. Sau đó, vua còn giao cho ông chỉ đạo việc xây chùa Thiên Phúc ở núi Phật Tích và giám sát việc xây lầu Chấn Khê. Vua Lê Nhân Tông trọng nể, cho thợ vẽ truyền thần ông đặt bên cạnh nhà vua để tỏ lòng yêu dấu.

Dưới thời vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Trực lại càng được trọng dụng. Năm 1460, nhà vua phong Nguyễn Trực làm Đại phu Trung thư sảnh, Trung thư sảnh Tri quan tam sự kiêm Nhập thị học sĩ Thượng khinh xa uý Thái liêu ban. Năm 1466, ông bị bệnh, xin miễn chức và mong được dưỡng bệnh dưới chân núi Đại Lại, xã Bạch Thạch, huyện Mỹ Lương, phủ Quốc Oai. Vua mời ông ở lại Kinh đô dưỡng bệnh. Năm 1473, vua Lê Thánh Tông triệu ông vào điện và phong cho ông là Gia hạnh Đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu. Tài năng và đức độ của Nguyễn Trực luôn được vua Lê Thánh Tông coi trọng và đánh giá cao. Do vậy, các thơ văn của nhà vua phần nhiều đưa cho Nguyễn Trực nhận xét, bình luận trước. Nhà vua còn sai văn thần đem bộ sách “Thiên Nam dư hạ” đến tận nhà để Nguyễn Trực điểm bình.

Ngày 28 tháng 12 năm 1473, Nguyễn Trực lâm bệnh và qua đời, hưởng thọ 57 tuổi giữa lúc tài năng đang còn rực rỡ. Khi ông mất, vua Lê Thánh Tông có lời điếu rằng:"Đời dõi Nho tông phát ấp bang; Trong đạo đức, có từ chương; Nối dòng thi lễ nhà truyền báu; Tranh giải khôi nguyên bảng chói vàng; Nam - Bắc hai triều danh vang; Phong lưu một cửa họ sang; Từ đường ở đấy niềm tây lạnh; Dấu cũ càng thơm xạ có hương". Thi hài của ông được an táng tại thôn Khê Thượng, xã Nghĩa Bang, phủ Quốc Oai. Sau lại cải táng dưới chân núi Thịnh Mỹ, xã Nghĩa Bang, phủ Quốc Oai.

Sinh thời ông là người trung trinh mẫn cán, thông kinh sử, giỏi việc bang giao. Tác phẩm có Bối Khê thi tập (Hu Liêu tập), và hiện còn 6 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Dù làm ở cương vị nào, Nguyễn Trực luôn giữ được phẩm cách tôn quý của nhà Nho hết lòng vì dân vì nước./.


 

TƯ LIỆU LỊCH SỬ GHI CHÉP VỀ HOÀNG GIÁP NGUYỄN DUY THÌ

Nguyễn Duy Thì sinh năm 1572, người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng (nay là thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên), là nhân vật lịch sử tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Phúc.

Trong Gia phả của dòng họ Nguyễn có tiêu đề Yên Lãng Thượng thư công gia phả có ghi: “Ông sinh lúc sáng sớm giờ Canh Thìn ngày Ất Mùi mùng 10 tháng 3 năm Nhâm Thân, tự là Duy Thì.” Sự kiện Nguyễn Duy Thì đỗ Hoàng giáp khoa thi Mậu Tuất năm Quang Hưng 21 (1598) khi 27 tuổi đều được ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Việt lịch triều đăng khoa lục...  Nội dung sắc phong năm 1651 (hiện lưu giữ tại nhà thờ), Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, cho ta biết Nguyễn Duy Thì mất năm 1651, thọ 81 tuổi. Sau khi mất, ông được ban tên thụy là Hành Độ, tặng chức Thái tể.

 

Ảnh: Triển lãm Nguyễn Duy Thì cuộc đời và sự nghiệp tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

 

Trong hơn 50 năm làm quan, qua các tư liệu lịch sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, đạo sắc phong… cung cấp một số chức quan mà Nguyễn Duy Thì từng đảm nhiệm như: Công bộ Thượng thư, Binh bộ Thượng thư, Thượng thư Bộ Lại, giữ việc 6 Bộ… Đồng thời, các sử gia của các cuốn sách này cũng chép lại việc ông đi sứ nhà Minh năm 1606 và bài Khải “Đạo trị nước” mà Nguyễn Duy Thì cùng các quan Ngự sử 13 đạo dâng lên chúa Trịnh chỉ ra vai trò của người dân đối với đất nước, khuyên chúa nên “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”. Cuốn Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi lại sự kiện Nguyễn Duy Thì liên tiếp tham gia đánh tàn quân nhà Mạc vào các năm 1618 và 1623, lập nên công trạng nên được phong Dực vận tán trị công thần. Năm 1624 và 1649, Nguyễn Duy Thì được triều đình cử vào Đàng Trong gặp chúa Nguyễn. Các sự kiện này được chép trong Đại Nam thực lục.

 

Ảnh: Các sách chính sử lưu lại tên tuổi sự nghiệp của Nguyễn Duy Thì

 

Mặt khác, Ông còn kiêm nhiệm nhiều chức vụ khác thuộc lĩnh vực ngoại giao, văn hóa, giáo dục như Tư nghiệp rồi Tế tửu Quốc Tử Giám trong khoảng hơn 30 năm (khoảng năm 1620 đến năm 1651); làm Giám thí của khoa Quý Sửu niên hiệu Hoằng Định 14 (1613) và khoa thi Quý Hợi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1623); Tri cống cử khoa Đinh Sửu niên hiệu Dương Hòa 3 (1637). Các sự kiện này lấy từ nội dung của các đạo sắc phong của dòng họ Nguyễn Duy ở Thanh Lãng và 3 tấm bia của ba khoa thi trên hiện được lưu giữ tại Di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

Hiện nay, trước tác của ông chỉ còn lại 3 bài văn bia (Đò Mát tự biTĩnh Lự thiền tự bi, Bia Văn chỉ huyện Lương Tài). Thác bản của 3 tấm bia đá này được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Nội dung các tấm bia ghi lại 1 số chức quan mà Nguyễn Duy Thì từng đảm nhiệm đương thời, đó là: Thượng thư Bộ Công (1626), Thượng thư Bộ Lại kiêm Chưởng lục bộ sự, Tế tửu Quốc Tử Giám, Hàn lâm viện Thị giảng, Chưởng Hàn lâm viện sự, Thái phó, tước Tuyền Quận công (1648-1649). Hai bài thơ chữ Hán có tên Bạc chu Bành Thành ngộ tuyết thứ Chánh sứ Nguyễn Phác Phủ vận và Bành Thành hoài cổ họa Chánh sứ Nguyễn Phác Phủ của Nguyễn Duy Thì viết trên đường đi sứ nhà Minh năm 1606, được chép trong cuốn Toàn Việt thi lục.

Có thể nói, tư liệu lịch sử ghi chép về Nguyễn Duy Thì khá phong phú về thể loại và tương đối tin cậy như bộ chính sử (Đại Việt sử ký toàn thưKhâm định Việt sử thông giám cương mụcĐại Nam thực lục), chí (Lịch triều hiến chương loại chíĐại Nam nhất thống chí), truyện (Công dư tiệp kýChư gia phát tích địa), gia phả, văn bia… Những ghi chép đó giúp chúng ta thu thập được nhiều sự kiện liên quan tới Tế tửu Nguyễn Duy Thì, góp phần tái hiện một cách khá chân thực về con người, cuộc đời, sự nghiệp, những đóng góp cho dòng họ, đất nước của ông thế kỷ XVI-XVII./.

 

Bài và ảnh: Ngân Anh


 

ĐỀN THỜ QUAN THƯỢNG LÁNG NGUYỄN DUY THÌ

 

Đền thờ Nguyễn Duy Thì (hay còn gọi là Đền thờ Quan Thượng Láng) nay thuộc tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Đền thờ có niên đại cách đây khoảng 400 năm, được dựng ngay trên nền phủ Bỉnh Quân - phủ của quan Thượng Láng Nguyễn Duy Thì. Đền thờ là nơi thờ cúng, tưởng niệm của con cháu dòng họ Nguyễn Duy đối với tổ tiên của mình là Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Duy Thì và con trai của ông là Hoàng giáp Nguyễn Duy Hiểu.

 

Ảnh: Tại nhà thờ Nguyễn Duy Thì, tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

 

Nguyễn Duy Thì (1572-1651) thụy là Hành Độ, đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất niên hiệu Quang Hưng (1598) đời Lê Thế Tông. Năm Hoằng Định thứ 7 (1606), ông được vua Lê - chúa Trịnh tin tưởng cử làm Phó Chánh sứ đi tuế cống nhà Minh cùng một số vị quan khác trong triều để tạ ơn vua Minh sách phong cho vua Lê. Trong năm 1612, Nguyễn Duy Thì cùng các viên Ngự sử 13 đạo dâng bài khải “Đạo trị nước” xoay quanh việc đề cao vai trò của người đứng đầu Nhà nước và người dân để ổn định đất nước sau những thiên tai, biến cố của xã hội thế kỷ XVII. Hơn 50 năm phò tá vua Lê - chúa Trịnh, Nguyễn Duy Thì từng đảm nhiệm nhiều chức vụ như sau: Tế tửu Quốc Tử Giám, Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại kiêm Chưởng lục bộ sự, Hàn lâm viện Thị giảng, Thái phó, tước Tuyền Quận công… Sau khi mất, ông được triều đình truy tặng chức Thái tể.

 

Ảnh: Nhà thờ Nguyễn Duy Thì, phố Đoàn Kết, thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

 

Nguyễn Duy Hiểu là con trai trưởng của quan Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Duy Thì. Năm Vĩnh Tộ 10 (1628), ông đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Thìn. Ông từng được cử đi sứ sang nhà Minh năm Dương Hòa 3 (1637). Ông làm quan đến chức Thiêm Đô Ngự sử.

Đền thờ được xây dựng theo kiến trúc chữ Nhị (二), bao gồm Tiền tế và Hậu cung, mái được lợp ngói mũi hài, tọa lạc trên một thế đất cao ráo, thoáng đãng nhìn ra trục chính của thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên. Tiền tế là nếp nhà 3 gian 2 chái, nơi thờ của Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Duy Thì; trưng bày sách quý; hội họp, bàn bạc các sự kiện quan trọng của dòng họ. Hậu cung là nếp nhà 3 gian, đầu hồi bít đốc, tay ngai, trong đó, gian chính giữa là nơi thờ của Quan Thượng Láng, hai gian còn lại là thờ tứ thân phụ mẫu của cụ Thì và con trai trưởng Nguyễn Duy Hiểu. Năm 2013, dòng họ đã đúc tượng đồng Nguyễn Duy Thì đặt trong cùng của gian thờ giữa. Tượng cao khoảng 1m, được tạc với tư thế ngồi trên ngai, chân buông cân đối phía trước, đầu đội mũ bó sát kiểu phốc đầu, mặc áo thụng dài, tay phải úp đặt lên đầu gối, tay trái cầm thẻ bài. Đường nét điêu khắc của tượng Nguyễn Duy Thì góp phần toát lên phong thái một vị quan hết lòng vì nước vì dân.

 

Ảnh: Mộ cụ Nguyễn Duy Thì

 

Hằng năm, ngày 11 tháng 9 âm lịch, con cháu họ Nguyễn Duy trên khắp cả nước sẽ tề tựu tại đền thờ để tổ chức ngày Giỗ Tổ, tưởng nhớ tổ tiên. Hai hiện vật quý giá được dòng họ Nguyễn Duy Thì lưu giữ đến ngày nay chính là cuốn gia phả chữ Hán và 34 đạo sắc phong cho Nguyễn Duy Thì, người thân của ông. Với những ý nghĩa và giá trị lịch sử như thế, nhà thờ đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 1993, trở thành một trong những di tích tiêu biểu của Thanh Lãng nói riêng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc nói chung.

Sưu tầm


HOÀNG GIÁP NGUYỄN DUY THÌ VỚI VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM THĂNG LONG

Nguyễn Duy Thì sinh ra tại xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng, phủ Tam Đới, nay thuộc thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông là nhà khoa bảng, vị quan đại thần có nhiều đóng góp cho đất nước trên nhiều lĩnh vực và cũng là một nhà giáo có nhiều đóng góp cho Văn Miếu - Quốc Tử Giám cũng như nền quốc học nước nhà nửa đầu thế kỷ XVII. 

 

 

Ảnh: Tượng thờ Nguyễn Duy Thì tại nhà thờ họ Nguyễn Duy

 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long được khởi lập cuối thế kỷ XI. Trải qua nhiều lần mở rộng dưới thời Lý, Trần, đặc biệt dưới thời Lê Sơ, Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã trở thành một trung tâm giáo dục quốc gia lớn nhất, đóng vai trò vừa là nơi đào tạo quan chức, nhân tài cho nhà nước, vừa là nơi quản lý, định hướng cho nền giáo dục theo Nho giáo. Sang thời nhà Mạc và Lê Trung hưng mặc dù xã hội có những bất ổn nhưng Văn Miếu - Quốc Tử Giám vẫn được triều đình quan tâm, việc giảng dạy học tập được tổ chức quy củ, khoa cử dần ổn định đi vào nề nếp.

Nguyễn Duy Thì đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Mậu Tuất (1598). Ông trải qua nhiều chức vụ quan trọng khác nhau cho đến khi ông giữ chức Lễ bộ Tả Thị lang kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám; Rồi sau được thăng Thượng thư Bộ Công kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám năm 1640. Nguyễn Duy Thì mất năm Tân Mão (1651), triều đình truy tặng Thái tể, ban tên thụy là Hành Độ. Hơn 50 năm làm quan, ông trải qua nhiều trọng trách là một vị quan thanh liêm, khẳng khái, tin cẩn làm việc mẫn cán, chính trực hoạt động ở mọi lĩnh vực..., nhất là trong lĩnh vực văn hóa và giáo dục, ông có nhiều đóng góp cho đất nước.

 

Ảnh: Triển lãm Nguyễn Duy Thì tại hội thảo Nguyễn Duy Thì cuộc đời và sự nghiệp tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám

 

Hiện nay, tại nhà thờ Nguyễn Duy Thì ở Yên Lãng, Vĩnh Phúc có 04 đạo sắc phong nhắc đến chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám của ông, trong đó đạo sắc năm Vĩnh Tộ 2 (1620) có ghi  “Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Tả Thị lang kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp Phương Tuyền bá Nguyễn Duy Thì”. Qua đó chứng tỏ ông kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám vào trước tháng 10 năm Canh Thân (1620). Đặc biệt, sắc phong cho ông kiêm giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám vào năm Dương Hòa 6 (1640), khi đó ông vẫn kiêm giữ Tư Nghiệp Quốc Tử Giám. Nguyễn Duy Thì được kiêm nhiệm Tế tửu từ năm 1640 và giữ chức này đến năm 1651 khi ông mất tại quê nhà. Như vậy, ông gắn bó với Quốc Tử Giám từ chức Tư nghiệp rồi Tế tửu trong thời gian rất dài, có nhiều đóng góp cho nền quốc học nói chung và Văn Miếu – Quốc Tử Giám nói riêng.

Nửa đầu thế kỷ XVII, đất nước còn nhiều bộn bề việc củng cố và ổn định ở Quốc Tử Giám là công việc đặc biệt quan trọng với triều đình. Nguyễn Duy Thì đã không phụ lòng tin cậy nỗ lực cùng các đồng sự tại Quốc Tử Giám chung sức gây dựng, củng cố việc đào tạo nhân tài cho đất nước. Ngay từ những năm 1620, nhiệm vụ của Nguyễn Duy Thì ở Quốc Tử Giám giúp triều đình phụ trách việc giáo đào tạo nhân tài, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện nhân cách cho hiền tài sau này sẽ trở thành các vị đại thần trụ cột của đất nước. Hơn thế, Quốc Tử Giám cũng là cơ quan quản lý, định hướng nền giáo dục, khoa cử của nhà nước, nên sự hưng thịnh của việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài của nước nhà phụ thuộc và sự hưng thịnh, phát triển của Quốc Tử Giám, và ngược lại, nhân tài có được là nhờ phần lớn vào chiến lược, định hướng và sự phát triển của Quốc Tử Giám. Với hơn 30 năm kiêm nhiệm chức Tư nghiệp, rồi Tế tửu Nguyễn Duy Thì cùng với các học quan Quốc Tử Giám đã góp phần củng cố nền quốc học, chế độ khoa cử để lựa chọn nhân tài cho đất nước. Đó là nhờ một phần công sức của các học quan ở Quốc Tử Giám trong đó có Nguyễn Duy Thì.

 

Ảnh: Sách chính sử lưu lại tên tuổi của ông

 

Hoàng giáp Nguyễn Duy Thì cùng các vị quan đương thời còn được triều đình tin cậy trao cho trọng trách tổ chức 3 kỳ thi đại khoa vào các năm 1613,1623 và 1637 Trong 3 kỳ thi phân bố dài suốt 3 thập niên ấy, Nguyễn Duy Thì được giao trọng trách làm Giám thí hai lần, và một lần giữ nhiệm vụ là Tri cống cử. Ba kỳ thi này hiện còn bia đề danh Tiến sĩ đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội.

Danh nhân Nguyễn Duy Thì là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo. Tên tuổi của Ông cùng các vị danh nhân khoa bảng mãi trường tồn cùng với nền văn hóa và giáo dục của Việt Nam./.

 

Sưu tầm


HOÀNG GIÁP TẾ TỬU NGUYỄN DUY THÌ CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Quan Thượng thư, Hoàng giáp, Tế tửu Nguyễn Duy Thì là một danh nhân tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Phúc và của nước ta ở nửa đầu thế kỷ XVII. Nguyễn Duy Thì là một người nổi tiếng tài và đức ở thời Trung hưng. Trong một thời gian dài là rường cột cho xã tắc và triều đình Lê - Trịnh

 

Ảnh: Làng nghề truyền thống trên quê hương ông

 

Nguyễn Duy Thì (1572 - 1651) sinh ra trong một gia đình và dòng họ có truyền thống Nho học, thuở nhỏ lại hiếu học, thông minh, có chí lớn, nhiều hoài bão nên ông đã sớm thành đạt và làm rạng danh cho bản thân, gia đình và dòng họ.

Nguyễn Duy Thì bắt đầu con đường quan trường sau khi thi đỗ Tiến sĩ năm Mậu Tuất (1598). Theo lệ của nhà Lê, các “Tiến sĩ” sau khi vinh quy về làng lại trở vào kinh sẽ được triều đình trao cho quan chức. Hoàng giáp trao cho chức Hiệu úy còn các Tiến sĩ khác thì trao cho chức Giám sát hoặc chức Cấp sự trung. Sau khi được lưu nhiệm, những viên quan này thông thường phải làm việc trong thời gian 9 năm thì mới lại được xét thăng thưởng hay thuyên giảm bãi miễn. Chúng ta có thể tin rằng trong khoảng ngót một chục năm đầu tiên, từ khi ông đỗ Tiến sĩ (1598), Nguyễn Duy Thì giữ chức vụ Cấp sự trung ở sáu khoa. Nhiệm vụ của ông là chuyên xét và bác trả lại cho sáu bộ những việc xét hỏi không công bằng, hoặc những việc bổ dụng đúng của Lại bộ.

Năm Hoằng Định thứ 7 (1606), Nguyễn Duy Thì được cử làm Phó sứ sang nhà Minh tuế cống. Sau chuyến đi sứ này trở về, ông được thăng Thiêm Đô Ngự sử tước Phương Tuyền bá. Trước đây, ông giữ chức Cấp sự trung hàm Chánh bát phẩm, sau 2 năm trở về, ông đã là Thiêm Đô Ngự sử ở hàng Chánh ngũ phẩm. Thăng một lúc 6 bậc (tương đương hàm Thứ trưởng ngày nay), rồi được thăng dần Đô Ngự sử phẩm tước ở hàng Chánh tam phẩm

Tới năm 1626, ông được thăng hàm Thượng thư tặng tước Quận công là tước vị cao nhất cho một người làm quan. Sau khi được thăng Thượng thư, Nguyễn Duy Thì liên tục được triều đình giao những chức vụ quan trọng. Ông lần lượt được giao cho các chức Thượng thư Bộ Công, Thượng thư Bộ Binh rồi cuối cùng là Thượng thư Bộ Lại, một bộ quan trọng nhất đứng đầu các bộ khác.

Năm 1642, Nguyễn Duy Thì được gia tặng Tham tụng có nhiệm vụ và quyền hạn như một vị Tể tướng, trông coi các quan, bàn việc chính sự của Nhà nước ở trong phủ Chúa, sẽ được thêm hàm “dự tán quốc chính” (dự giúp chính sự nhà nước). Xem thế ta thấy Nguyễn Duy Thì khi đó đã trở thành một vị đại thần bậc nhất ở triều đình cũng như ở phủ Chúa.

Trong cuộc đời làm quan của mình, Nguyễn Duy Thì còn được kiêm nhiệm thêm nhiều chức vụ khác thuộc các lĩnh vực văn hóa - giáo dục - khoa học (khoa giáo) như chức Tư nghiệp rồi Tế tửu Quốc Tử Giám. Quốc Tử Giám là một cơ quan chuyên môn của Nhà nước, có người còn gọi đây là trường Đại học đầu tiên và duy nhất của nhà nước phong kiến. Quốc Tử Giám đời Trần có chức Tư nghiệp. Đời Lê đặt các chức Tế tửuTrực giảngBác sĩGiáo thụ. Các quan chức trong Quốc Tử Giám có nhiệm vụ phụng mệnh trông coi nhà Thái học, rèn tập sĩ tử, hàng tháng theo đúng kỳ cho tập làm văn để gây dựng nhân tài, giúp việc thực dụng cho nước.

 

Ảnh: Lăng mộ cụ Nguyễn Duy Thì ở quê nhà

 

Nguyễn Duy Thì sinh ra trong bối cảnh thời loạn, trong bối cảnh xã hội đầy biến động, triều đình vua Lê - chúa Trịnh luôn trong trạng thái phân quyền, quan chức bon chen, chao đảo, nhân dân thì sống trong cảnh rối ren khổ cực. Tấm lòng của ông đối với nhân dân  được thể hiện sâu sắc và rõ nét nhất trong tờ Khải trình lên chúa Trịnh vào năm 1612. Nội dung bài Khải rất sâu sắc, là một trường hợp hiếm hoi được sử gia Lê - Trịnh chép lại gần như nguyên vẹn.

Tư tưởng chính xuyên suốt trong bài Khải của Nguyễn Duy Thì là: “Dân là gốc của nước, người trị nước phải biết thương dân”. Ta như gặp lại tư tưởng “thân dân” của các bậc tiền nhân thời trước như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi… phải là người hết sức cảm thông, thấu hiểu tình cảm của nhân dân, giàu lòng vị tha và ý thức được trách nhiệm lớn lao trước vận mệnh của nhân dân mới dám viết và viết được những dòng tâm huyết như thế.

Danh nhân Nguyễn Duy Thì cách chúng ta đã gần bốn trăm năm, một khoảng thời gian mà lịch sử đất nước trải qua bao nỗi thăng trầm, với con người có tư tưởng yêu nước thương dân, một ông quan thanh liêm chính trực, một con người giữ được chữ tâm rất sáng trong xã hội rối ren, kỷ cương phép tắc đảo lộn thì không có khoảng thời gian nào xóa nhòa được./.

 

Sưu tầm


CHU VAN AN AND HIS CONTRIBUTIONS TO VIETNAMESECULTURE.

 

 

Chu Van An, “a model educator of all time,” is not merely a teacher, an intellectual, an official, or poet but also a cultural activist. He was a great contributer to national culture.

During his life, Chu Van An compiled many works. His works included  Tứ thư thuyết ước (10 volumes of explanatory notes about the Four Books – Confucian Classics), the collection of Tiều Ẩn thi tập Poetry (1 book), and Quốc ngữ thi tập (1 book).

In addition, he also wrote books on geography (Địa đạo dẫn giải chương cú tập chú ), the universe and astronomy (Thiên văn chiêm nghiệm tập chú) and a book of medicine (Y học yếu giải tập). Chu Van An was straightforward, talented and a virtuous teacher. He was an intellectual, an educator, and a cultural person "who did not ask people to know him but only worried that he did not have the virtue to be known" and "learning success for himself is to succeed for people, enrich the people, and gracefully  leave behind knowledge for generations ",

He was a shining example for generations to follow. For the past 650 years,  Chu Van An’s thoughts about culture and education are still intact and have great positive educational meaning in the modern society.

 

Writer: Truong Thuy Hong

Translator: Le Thu Huong


CHU VAN AN AND PHUONG HOANG MOUNTAIN

(Photo: Chu Van An's temple on Phuong Hoang mountain)

While working as as  director of Quoc Tu Giam, Chu Van An contributed to the training of  talents and the King's son. Under Tran Du Tong King (1341 - 1369), state affairs were confusing and the King neglected his attention to the nation which caused the courts to abuse their authority. In protest, Chu Van An presented his petition to the King to order seven bad mandarins to be executed. After the King refused Chu Van An's petition,  he left office to live in seclusion on Phuong Hoang Mountain, Hai Duong district. According to "Kien Van Tieu Luc", Le Quy Don (1726 - 1784) wrote: "There were five moral  and upright talents under Tran dynasty. Chu Van An's petition to order seven bad mandarins to be executed, affected everyone inside and outside of town then he retired and did not care about material things. Chu Van An was respected by lords and admired by mandarins, he was the loftiest talent".

Phuong Hoang Mountain is a beautiful sight  to see with an immense pine tree forest, fresh stream, old pagodas and towers and 72 quaint mounts. This was a place to entertain great men's minds under Ly – Tran. Chu Van An gave his whole mind to writing, teaching and writing medical prescriptions for poor people and composing poems. Today, almost all of his writings have been lost, only 12 poems were written in Han character and book of medical prescription. Although some of his writings were written at the end of his life on Phuong Hoang, his poems expressed composed spirit from a retired talent.

Chu Van An's writings were full of a sense of purpose and uprightness expressing the intense emotion he felt for his nation. Chu Van An passed away in 1370 when he was 78 years old. In order to commemorate his contributions, villagers built a temple to honour him in Hai Duong (Luu Quang temple). His tomb was on Phuong Huong Mountain and near  Luu Quang temple. On September, 14, 1994, Luu Quang temple was ranked as a National Historical site.

In 2000, Ministry of Culture, Sports and Tourism authorized Hai Duong Museum and Institute of Archaeology to research and excavate Phuong Hoang Mountain. They discovered many  archaeological relics and items under Tran and Le dynasty  concerning Chu Van An (tomb, Son well and stone statue). .

Nowadays, Chu Van An's temple on Phuong Hoang Mountain is one of the famous cultural attractions, visited by domestic and foreign tourists. Especially, many  students throughout the country always visit to show deep gratitude and respect to one of the greatest educators in Vietnam.

Bùi Bích Phương


WHAT MADE CHU VAN AN BECOME A GREAT MAN

 

(Attendants of the seminar in the  ceremony to commemorate Head Master Chu Van An)

1.Chu Van An (1292 – 1370) was a contemporary of Truong Han Sieu (1274-1354), Doan Nhu Hai (1280-1335), Nguyen Trung Ngan (1289-1370), who were high-ranking mandarins under the Tran dynasty.

King Tran Minh Tong (1300-1314-1357) had eyes for Chu Van An and appointed him as a teacher to train royal princes. Chu Van An improved his personal life and career by himself instead of taking the opportunities in history. 

2. Chu Van An’s father was a common man from Northern Vietnam.  He and his wife had a simple wedding in his wife’s hometown.

Chu Van An did not come from a good lineage, although this did not hold him back  with his successful career.

3. Chu Van An and his family lived in Thanh Liet village – his mother’s hometown. Customary to village rules, Chu Van An and his father were not recognized as  natives of the village.

Researchers  thought for a long time that there was a matter with the relationship between Chu Van An and the place he lived then. After 700 years, the residents of Thanh Liet village honoured Chu Van An as an outstanding man. When Chu Van An decided to found his own school, he selected another place instead of Thanh Liet village.

During the reign of Tran Du Tong, the King overindulged, causing the ruin of the court. Chu Van An submitted a petition to the King requesting the beheading of seven dishonest mandarins, but the King refused. Chu Van An was so upset by this that he moved to the mountainous area of Phuong Hoang in Chi Linh District, Hai Duong province to open a school and lived in this area until he died. It was thought that the place Chu Van An lived was not as important as the things he achieved.

4. In fact,  Chu Van An spent his life studying and improving himself. He epitomized the dutiful man.

Chu Van An successfully brought Confucianism to Vietnam. He summarized four Confucianism books (Dai hoc, Trung dung, Luan Ngu, Manh Tu) to create a schoolbook  for himself. Chu Van An’s book was famous for illustrating ways to be a great man for contemporary students.

Chu Van An tried to self – improve to become an exemplary, everlasting educator and spread the system of education to the nation.

Chu Van An is engraved in Vietnamese people’s memories as a self – made man who madegreat contributions to train the talents of the nation and develop a traditional education system for Vietnam.

 

 

Author: Historian Le Van Lan

The text extracted from “Chu Van An – his life and career” seminar

 

Translator: Bich Phuong 


CHU VAN AN AND HIS CONTRIBUTIONS TO VIETNAMESE CULTURE

 

Some additional evaluations of Chu Van An’s contributions to Vietnamese culture from today’s persepctive.

 

  1. 1.Timeline of honoring Chu Van An during the renewal of the country

In 1994, the Communist Party of Vietnam implemented the Resolution of the Fourth Plenum focusing on education and training of the Vietnamese culture.  The goal was to revitalize the role of teachers and honor them.  During this period of teacher appreciation, there was a new found interest and understanding of Chu Van An and his influence of Vietnamese education and culture.  Restoration of monuments in the hometown of Chu Van An, and other memorial activities began to take place.  Continuing today, Van Mieu – Quoc Tu Giam Culture and Science Center not only honors Chu Van An as a traditional teacher but also as a cultural icon.  Chu Van An is honored nationwide. 

  1. 2. Main ideas from the 1994 article “Chu Van An – a Vietnamese teacher’s personality”

Chu Van An dedicated his life to be a teacher to all; forgoing the opportunity to be a mandarin.  He felt responsible to train talents for the nation with his teachings.  He thought that teaching a future king would be the best for the country.  His teachings and beliefs have been handed down in the history of Vietnam from generation to generation.  Chu Van An is best described as a wise man, a talented and virtuous teacher, who over time has   had a profound influence on contemporary culture and education.

  1. 3. New reflections on Chu Van An’s contribution to Vietnamese Culture. 

            Chu Van An, “a model educator of all time,” is not merely a teacher, an intellectual, an official, or poet but also a cultural activist. It has been expressed that nowadays Confucian education is no longer appreciated (Chinese characters and Confucian ideology), therefore it is illogical to say that Chu Van An is an exemplary educator of all time Vietnamese scholars disagree with that statement because he was a great teacher providing students with both knowledge and a moral compass. If an individual understands Chinese characters and Confucian ideology, he/she has the opportunity to examine and perfect themselves.  As a result, Confucian ideology and Chinese characters help to make society better.       Chu Van An’s educational ideology is still applicable in modern time. He always appreciated the importance of intellectuals; education and culture that help develop and maintain social order.    His life, career and the period in which he lived provide future generations valuable lessons. He placed importance on culture which still holds true today.  The development or decline of a nation depends crucially on its cultural, and spiritual basis.

            His life and career leave us a clear proof of a great intellectual. For hundreds of years, historians and cultural activists have deeply respected Chu Van An for his personality along with his intellect, virtue and responsibility for the nation. Living in the time when the country witnessed a chaotic political situation, he was not afraid to lose his career and even his life submitting a petition called ‘That tram so’ to the King Tran Du Tong to demand that seven bad mandarins be executed immediately. Being a courageous official, he never yielded to violence; moreover, fame and wealth were not the things that desired. His courageous act was an initiation for people to resolve the conflicts between authorities and intellectuals. It was because only when intellectuals overcame the lures by their desire for power and fame could they show their real abilities.

            His lifestyle and lofty soul are as a good example for people of all generations. Furthermore, it does make sense in modern time when the nation is growing faster and faster. As a result, people tend to run after money, fame and technology, so they forget traditional beliefs. They became increasingly dependent on material conditions; their souls became insensitive, empty and filled with mixed-up information. With his courageous spirit, Chu Van An led a meaningful and modest life in a disorganized society. His lifestyle initiates a positive orientation for future generations, despite differences between the time he lived and present day.

 

Author: Associate Professor and Dr. Le Quy Duc

Translator: Chuong Van


THE INFLUENCE OF CHU VAN AN TO THE COMTEMPORARY

 

Teacher Chu Van An had been respectfully known as a role model for teachers throughout the ages because of his high moral standards and for his excellence in teaching.

Many scholars were well known for their knowledge but some of them obtained prosperity and high leadership positions from cunning instead of virtue and wisdom. Chu Van An was a brilliant but unlucky man.  The king did not recognize his helpful contributions to rule the nation.

Historians said that from a young age, Chu Van An was known as a respectable man of pure, moral integrity who did not seek fame and wealth and only liked to stay at home to read books. After passing the doctoral examinations, he refused to work as a mandarin and returned to his native village to open a school and worked as a teacher. He had many students who came from different parts of the country. Many of them were successful in learning and after passing the examinations they became high ranking mandarins in the court, such as Pham Su Manh, and Le Quat. When they visited their old teacher, they still observed high etiquette and were received by him. While those who failed to meet his standards, were scolded and he refused to meet with them. His serious noble conduct and intelligence made his reputation spread far and wide, and attracted more and more students.

Due to people’s compliments for his virtue and talent, Chu Van An was invited by the court to the capital city to be in charge of Quoc Tu Giam; the first national university. During the reign of Tran Du Tong, the King overindulged, causing the ruin of the court. Chu Van An submitted a petition to the King requesting the beheading of seven dishonest mandarins but the King refused. Chu Van An was so upset by this that he moved to the mountainous area of Phuong Hoang in Chi Linh District, Hai Duong province to open a school and lived in this area until he died. In order to express gratitude towards Chu Van An for contributions he made, villagers of Nguyem Bao and Hai Duong villages built the Temple for Chu Van An on Phuong Hoang mountain to commemorate him forever. Today, the temple is recognized as a historical monument in Hai Duong with inscriptions of parallel sentences in Chinese in praise of the everlasting exemplary educator

With a lofty soul and immense knowledge, Chu Van An was worthy of being an outstanding teacher in the national education system. It was King Tran Nghe Tong who ordered the statue of Chu Van An to be erected at Van Mieu. The King wished to recognize the most virtuous and excellent man as an example to all generations at Van Mieu.

Chu Van An is honored as the most outstanding Vietnamese educator. He successfully brought Confucianism to Vietnam. His ideology and viewpoints in education are of great significance for all generations.

Author: Pro.PhD Nguyen Duc Nhue (Institute of History)

The text extracted from “Chu Van An – his life and career” seminar

 

Translator: Bich Phuong 


CHU VAN AN AND HIS CAREER FROM THE SOURCES OF HAN - NOM DOCUMENTS

According to The Complete Annals of Dai Viet (Dai Viet Su Ky Toan Thu), Chu Van An was born in 1292 in Van Thon village, now part of Thanh Tri District in Hanoi. After he passed doctoral examinations, he refused to work as a mandarin and returned to his native village to open a school and worked as a teacher

His syllabus mostly revolved around Confucian teachings, thus making him one of the most important figures in spreading Confucianism to Vietnam. His decision not to enter into government service was a wise one, as he had a real gift for teaching. He strongly believed that a good teacher must be strict and act as a role model, both intellectually and ethically, for his students. During his teaching career, many of his students became top officials in the Vietnamese government, including Emperor Tran Minh Tong’s son Tran Vuong, who later went on to become Emperor Tran Hien Tong.

While Chu Van An’s professional career was straightforward in official historical documents, his fame and ability as an educator have inspired many a myth among the common people. In one such story, his teaching ability was so remarkable that even river spirits attended his classes.

Chu Van An was dedicated at Van Mieu in Hanoi from 1370 to 1809.  When Nguyen Dynasty moved the new capital to Hue, thedynasty founded another university as the highest examination center. During this time, Van Mieu in Hanoi, was no longer the biggest national university, and was used as a small school. Since 1837,  Chu Van An has been honored in Hue.  He is honored as the greatest educator of the nation both in Hanoi and Hue.

Throughout the country, Chu Van An is honored in the community temple in every village as a Sage or Saint and an educator.   In addition, other well – known scholars who passed doctoral examinations and inspired and supported their village are also honored.

During his career, Chu Van An wrote many famous books in Chinese.   Some of these books have survived and inspired historians and scholars to achieve great things.

Chu Van An spent his entire life teaching and training students in three different areas of Vietnam, including his hometown, Quoc Tu Giam (The first national university) and Hai Duong. One Chinese document states Chu Van An was the first man to open a private school that attracted many students from near and far with his lofty soul and immense knowledge. Through the ups and downs of life, Chu Van An made contributions to rule the nation and train the talents. He is revered among the Vietnamese people

Writer: PhD. Nguyen Huu Mui (Han Nom Institute)

The text extracted from “Chu Van An – his life and; career” seminar

Traslator: Bich Phuong


LIFE AND CAREER OF SCHOLAR CHU VAN AN THROUGH HISTORY WRITTEN BY IMPERIAL COURT AND PRIVATE DOCUMENTS

 

The ancient documents (history written by Imperial court and private documents) wrote about the life and career of Chu Van An.

I. The first historical book written about Chu van An was Đại Việt sử ký toàn thư (Complete Annals of Dai Viet). The writers wrote about the life and career of Chu Van An during the recession society of Tran dynasty (the 13th – 14th century).

The following historical books such as: Đại Việt sử ký tiền biên under Tay Son dynasty, Khâm định Việt sử thông giám cương mục under Nguyen dynasty, and works of writers such as: Nam Ông mộng lục – Ho Nguyen Trung, Kiến văn tiểu lục  - Le Quy Don, Hoàng Việt thi tuyển – Bui Huy Bich…also used information from Đại Việt sử ký toàn thư to write about Chu Van An.

Records about Chu Van An in the history written by Imperial court and private documents:

1. Chu Van An was born in Thanh Liet commune, Thanh Đam district, which now is part of Thanh Tri, Ha Noi. He died in 1370 at Phuong Hoang mountain, Chi Linh province (now part of Van An precinct), Chi Linh town, Hai Duong province. Chu Van An is the first Vietnamese Confucian scholar to be worshiped in The Temple of Literature by King Tran Nghe Tong. He is also worshipped in many places throughout the country.

2.Chu Van An was straightforward, talented and a virtuous teacher and scholar under Tran dynasty. He was known for being straight forward and not being concerned with fame and advantages. During the Tran Du Tong Dynasty (1341-1369) the affairs of the court were not good.  Mandarins abused their power, so Chu Van An submitted a petition requesting the killing of seven bad madarins. Unfortunately, the King did not reply to his petition. Chu Van An resigned and lived in seclusion in Kiet Đac hill of Chi Linh district, Hai Duong province.

The Vietnamese historians and scholars all respect his frank manner and honoured him as the venerated educator.

3. Chu Van An studied by himself for many years and became an outstanding educator who made great contributions in education for Viet Nam.

It was said that Chu Văn An was awarded the title Thai Hoc Sinh (doctor degree) under the Tran dynasty. However, he did not work as a mandarin,.  He founded a private school to train many talents for the nation, including Pham Su Manh and Le Ba Quat who worked at the court as Nhập nội hành khiển (chief mandarin) under Tran dynasty. His students always paid respect to him because he was full of integrity. His students, some of whom were even a minister or prime-minister, treated him as teacher, and those who were invited in usually knelt to listen to him. Those who were not good mandarins would be driven away.

After he resigned and came to live in seclusion in Kiet Đac hill of Chi Linh district, Hai Duong province.

King Tran Minh Tong  (1314-1329) invited him to the Capital to instruct Tran Vuong crown prince (who later became the King Tran Hien Tong ) and appointed him as Tư nghiệp(Director) of Quoc Tu Giam, looking after the training in Quoc Tu Giam and ceremony in the Temple of Literature.

All the ancient books noted that in 1370, he died at the age of 79. King Tran Nghe Tong was so upset, he gave Chu Van An the posthumous name “Khang tiet”, awarded him the title Văn Trinh Công and ordered him honoured in the Temple of Literature. Chu Văn An is the first Vietnamese Confucian scholar to be worshiped in the Temple of Literature.

Chu Van An spent his life for education and training talents for the nation. He continues to be respected as the everlasting teacher of generations.

4.Chu Văn An wrote Tứ thư thuyết ước as the textbook for students.

II. Decoding the life and achievement of Chu Van An.

Firstly about his name, from Nguyen dynasty in the time King Tu Duc (1848-1883) all the historians wrote about his name being Chu Van An.

Secondly about the year he was born. Historical documents do not write about his birthday, only his death day in 1370. So now we should research more.

We should research about whether he was awarded the title Thai Hoc Sinh (doctor degree) under the Tran dynasty or not.

In a word, Chu Van An always worried about country and training talents (including the princes and students from different parts of country under 14th century.

 

 

Writer: Doctor Nguyen Huu Tam – Institute of History

Excerpted from Science Seminar “Chu Van An scholar – Life and  career”


CHU VAN AN – LIFE AND CONTRIBUTIONS TO THE EDUCATION OF A NATION

Chu Van An was a confucian scholar and educator under feudal society. But he had many valuable contributions for future generations of the nation.

Life and career of Chu Van An (1292-1370)

Chu Van An was born in 1292, and died in 1370. He was also called Chu An. He lived in Thinh Liet commune, Thanh Đam district, which now belongs to Thanh Tri, Ha Noi. When he was young, he was renowned for being full of integrity and righteousness and he only stayed at home to read books and teach.

Chu Van An was a famous confucian scholar and a great teacher under the Tran dynasty.  King Tran Minh Tong (1314-1329) invited him to the Capital to instruct Crown Prince Tran Vuong (who later became King Tran Hien Tong) and appointed him as Tư Nghiep of Quoc Tu Giam (Director of Quoc Tu Giam), looking after the training in Quoc Tu Giam. During the reign of King Tran Du Tong, the court was in disarray; mandarins abused their power. He submitted a petition recommending seven bad mandarins to be killed. Unfortunately, the King did not reply to his petition. Chu Van An then resigned and lived in seclusion in Kiet Đac hill of Chi Linh district, Hai Duong province. Later, King Tran Nghe Tong invited him to the Capital to work as a mandarin and help the king in governing the country. But he only went to the court to congratulate the king and returned home. In 1370 he died at the age of 79. King Tran Nghe Tong decreed that Chu Van An be honoured in Van Mieu

Chu Van An wrote Tứ thư thuyết ước a textbook for students plus 10 other books. Unfortunately, these books cannot be found today.  In his education activity Chu Van An tried his best to introduce Confucian doctrine and created a positive environment for Confucianism to reach a higher importance above Buddhism among Vietnamese. His students always paid respect to him because as a teacher he was full of integrity and righteousness. Former students who rose to the ranks of minister or prime-minister, continued to treat him with respect. Students who were invited to visit usually knelt to listen to him. Those who were not good mandarins would be driven away.

He composed poems such as: “Tiểu Ẩn thi tập” và “Quốc ngữ thi tập” but the manuscripts do not exist today.

Generations of Vietnamese have considered Chu Van An as the everlasting teacher for all.  After the revolution in 1945, a tree-lined street and a secondary school, the most renowned in the country, were named after him to commemorate his righteousness and achievement.

Chu Van An’s contributions to the education of the nation

The moral, prestige and capacity of the teacher: Chu Van An identified, the teacher must always be a model of morality, prestige and talent. Throughout his life, he devoted himself to education. With the opening of a private school, he contributed to making the academic atmosphere of the Tran dynasty more active.

Chu Van An determined the task of a teacher. He taught: “Confucian scholar’s obligation is that our success in studying is for the other’s success, merit to people, to give favour for the next life”.

Chu Van An’s opinion about education principle: He always advocated that education was for everyone. Under Tran dynasty some public schools were opened for the sons of royal families by the court. Chu Van An opened private school in his native village for the poor students in order to improve their talents to help the country. Chu Van An got love and respect from his students.

Chu Van An’s opinion about education content: Through his teachings, Chu Van An directed people to a model of kindness and righteousness in their daily lives. He taught his students to respect the workers and be in charge of their life.

He taught his students to be brave, high – minded, abolish what is unjust and be willing to sacrifice for the nation.

Chu Van An’s opinion about education methods: Chu Van An always emphasized the rigor of education for the younger generation. The strictness must first come from the teachers. He confirmed: “Teacher must be strict.” According to Chu Van An “strictness” provides rules and discipline as a model for education.

Chu Van An’s opinion about teaching materials: Chu Van An was always interested in the compilation of materials for learners. Chu Văn An wrote Tứ thư thuyết ước as the textbook for students, but these books have not been found today. He also wrote traditional medicine books, and composed poems.

Writer: Prof. Doctor Duong Hai Hung – Doctor. Mai Quoc Khanh

(HaNoi National University of Education)

Translator: Le Huong 

Excerpted from Science Seminar “Chu Van An scholar – Life and career”


THE WAYS TO EXPRESS GRATITUDE TOWARDS CHU VAN AN

Chu Van An who is engraved in the memories of Vietnamese was a self – made man, who made contributions to train the talents and develop traditional education system of Vietnam.

  1. 1.Temples dedicated to Chu Van An

Throughout Vietnam, there are many temples dedicated to Chu Van An. In Hanoi, Chu Van An is honored at Van Mieu as the greatest, everlasting educator. In his hometown temples are dedicated to him and his mother as a Sage or Saint and the teacher of the nation.

There is a temple dedicated Chu Van An in Hai Duong. After leaving office, Chu Van An moved to the mountainous area of Phuong Hoang in Chi linh District, Hai Duong province to open a school and lived in this area until he died. In order to express their gratitude towards Chu Van An, villagers of Hai Duong built the Temple for Chu Van An on Phuong Hoang mountain to commemorate him forever. Today, Temple of Chu Van An on Phuong Hoang mountain is recognized as a historical monument in Hai Duong with inscriptions of parallel sentences in Vietnamese and Chinese in praise of the everlasting exemplary educator.

          There is a temple in Hung Yen dedicated to Confucius, Chu Van An and native scholars.  The temple was built in order to encourage the talents and heighten the education of the people.  Locals come to the temple to make a wish for their children to be prosperous in studying and be lucky in life.            In recent years, several temples were reconstructed throughout the country to honor the great men of the nation such as Chu Van An in Vinh Phuc, Dong Nai.

2. Making offerings and organizing festivals to Chu Van An.

As a Vietnamese tradition, people came to Van Mieu – Quoc Tu Giam to make offers to the great men, dedicated in Van Mieu; Chu Van An among them.

         On the first day of Lunar New Year, the beginning new year writing ceremony is organized with the cooperation between Department of Education and Training Hanoi and People’s Committee of Thanh Tri District. Before opening the event,  representatives from People’s Committee in Hanoi, the Department of Education and Training Hanoi and People’s Committee of Thanh Tri District make offerings to Chu Van An and report all results they achieved during the last year.   Four characters are ordered to commence a new year’s writing: nation, prosperity, people, and desire to consolidate the country and improve the talents of the nation.       

In Tam Hiep Commune, the festival is held by villagers around the first four days of the Lunar New Year to offer guardian of village and Chu Van An. It is customary for villagers in Tam Hiep Commune to wish for themselves luck and the best things in new year.        

       In Hai Duong, the temple of Chu Van An on Phuong Hoang mountain is one of the well - known historical sites.  There is an annual ceremony held by Chi Linh villagers. The ceremony includes making offerings to Chu Van An, picking up the sedan chair used to usher god, and organizing traditional games.

          Some ceremonies are held for young students from high schools in the Temple of Chu Van An with activities such as: camping trips, playing traditional games, and discovering historical sites by themselves. This provides a chance to learn about Vietnamese history and Chu Van An for the younger generation.

3. Giving the name Chu Van An to streets and schools

The Vietnamese government decided to publish regulations for naming streets and schools after great men who made contributions to the nation. . Because of  Chu Van An’s influence and contributions his name is often used on streets on schools.

       There are 50 schools named Chu Van An throughout the country including a high school in Ha Noi originally built in 1908 by the French. The school changed its name to Chu Van An in 1945 and is now one of the most prestigious schools in Hanoi.

4.Statues of Chu Van An

Statues of Chu Van An can be found in Van Mieu – Quoc Tu Giam, Chu Van An high school and Van Mieu in Tran Bien – Dong Nai. The various forms of Chu Van An’s statue express him as a role model  and educator with a lofty soul and immense knowledge.

                  There is no doubt that in the last 600 years, Chu Van An has influenced Vietnam. His career became a precious moral value of culture for the nation. Every Vietnamese is proud of Chu Van An and honors him as the greatest man with highest personality and human dignity.

                                                    Author:  NTM

The text extracted from “Chu Van An – his life and career” seminar


CHU VAN AN – THE GOD OF HAPPINESS – IN TRADITIONAL BELIEF

According to Viet Dictionary by Prof. Hoang Phe, chief editor the phrase “God of Happiness” is explained: “the god always does the best things (a person who does good things will be honoured after death) is dedicated as God of Happiness by villagers”

In historical books, Gods of Happiness honoured by people are heros. They were willing to sacrifice themselves to protect the country and people. In addition, gods of happiness make great contributions to develop the education of the nation such as Ly Dao Thanh under Ly dynasty, Chu Van An under Tran dynasty, and Nguyen Trai under Le dynasty.

The phrase God of Happiness Chu Van An was wrtten in Tối linh từ thực lục. This book is kept at the Institute of Han-Nom Studies and was published in A.1323. The contents of the book is about the admiration of  Vietnamese  Scholar  Chu Van An. The book also illustrates the text of the stele Huỳnh Cung huyện từ bi ký placed at the Temple of Thanh Tri district. The stele contains text praising Chu Van An for his contributions. The author of the text was Dortor Nguyen Cong Thai. He passed the royal exam and received the title Doctor Laureate in 1715. The text showed that God of Happiness Chu Van An has been worshiped at two places:

1. God of Happiness Chu Van An has been worshiped at Huynh Cung village.

Chu Van An opened a school in Huynh Cung village. The ancient geographical books wrote that besides Huynh Cung village, God of Happiness Chu Van An also was worshiped in eight other villages. These villages worshiped Chu Van An at the same Cat temple at Xa Can. And two of Chu Van An’s students have been worshiped there as gods of Happiness.

2. God of Happiness Chu Van An worshiped at Chi Linh

The temple of God of Happiness Chu Van An has been worshiped at Chi Linh district, Hai Duong province.

In the middle of the temple there is a horizontal lacquered board: “God of Happiness of Confucianism in Viet Nam”

In the history of  Vietnamese  beliefs, individuals who made great contributions to the people and the nation have been dedicated as Gods of Happiness and  worshiped at the Communal House. However, it is rare for an individual to be worshiped as God of happiness of Confucianism.

3. God of Happiness of Confucianism

On the text of stele Huỳnh Cung huyện từ bi ký, Dortor Laureate Nguyen Cong Thai wrote about the effects of God of Happiness Chu Van An to develop education and improve  the life  and wellbeing  for people.

In 1370, God of Happiness Chu Van An passed away at the age of 79. King Tran Nghe Tong gave him the posthumous name as Khang Tiet, awarded him the title Văn Trinh Công and ordered him to be honoured in the Temple of Literature. He was honoured in the Temple of Literarure from the Tran dynasty (14th century) to the Le trung hung dynasty (18th century). Since 1837 he has been honoured at the temple till present day. Many villages built temples to worship Chu Van An as God of Happiness.

Author: Prof. Nguyen Ta Nhi (Institute of Han – Nom Studies)

Excerpted from Science Seminar “Chu Van An scholar – Life and career”


CHU VAN AN IN THE HEARTS OF THE RESIDENTS LIVING IN THANH TRI DISTRICT

 

Chu Van An(1292 -1370) was born in Quang Liet Village, Thanh Liet Commune, Thanh Tri District, Hanoi. History records indicate he achieved the most honorable position of his time. He was studious and founded a private school.  Chu Van An was invited to work as a mandarin-head master of Quoc Tu Giam School. When he passed away, King Tran Nghe Tong decided to give him a posthumous name “Van Trinh” in recognition of his excellent morals and talent. Then the King ordered that Chu Van An be worshipped in Van Mieu like other Confucian deities. This privilege bestowed on Chu Van was very unusual in his time.

In the hearts of the residents living in Thanh Tri District, his modest way of living was as a good example to everyone of all time. Consequently, Chu Van An was worshipped as a tutelary god in a spacious temple near To Lich riverside.  In addition, to show their respect for him, they address him as “Duc thanh Chu-Chu Saint” or “Duc thanh Van-Literature Saint”.

 

It can be said that: “ a dead person is a completely dead  if he or she leaves no contributions to mankind”.  In fact, 700 years after his death, Chu Van An is still thought of  as a talented, and virtuous educator.

Chu Van An- a brilliant philosopher:

The history book “Dai Viet Su ky Toan thu-Complete Annals of Dai Viet” states that: “ He stayed inside reading books; he was a man of great learning; many students heard of that then came to ask to study  from him, his students then occupied high positions in court”. His students were not only taught to become talented but virtuous as well. No matter what position they occupied, they always kept his teachings in their minds and tried to be good men of the nation. According to Chu Van An, the goal of education is not merely for knowledge but virtue.

Chu Van An-An upright man not to yield to violence

Chu Van An is not only remembered for his talent but also moral integrity, as a result, he has many other admirers apart from his students. He always heightens decency and the ability to work independently. He demands that his students be honorable and brave not to yield to violence. His teachings focused on the responsibility for people and the nation. When he was a head master looking after training students, he always followed state affairs. When the nation witnessed a chaotic political situation, many bad mandarins abused their power and stole state property. Chu Van An decided to submit a petition to the King, requesting that seven bad mandarins be executed. The petition reflected his righteousness and courage and served as a reminder for everyone to raise their voices to protect reason.

 

Chu Van An’s enormous contribution to Vietnamese education. 

His personality is reflected by his “Reformed teaching methodology”. He was an exemplary educator. He stressed that teachers had to create big changes in their students’ careers and do more for the nation. He founded a private school in Huynh Cung Village (now in Thanh Tri District). His school was open for all students regardless of their social status. After the foundation of the school, education under the Tran dynasty became more exciting. Chu Van An devoted his whole life to education for the development of the nation, not for any private benefits.

Approximately 700 years since his death, many of documents about Chu Van An have been lost; the Temples in which he is being worshipped have changed remarkably in their appearance. However, the image of Chu Van An is still in the hearts of people, especially the residents in Thanh Tri District, as a upright, talented educator and Confucian philosopher.

         

The Administration and residents in Thanh Tri District have proved a sense of responsibility for the conservation of the temple to Chu Van An. The conservation work has been carefully done to keep the original condition. With an investment of more than 7.8 billion VND from State budget and another 700 million VND as a donation from locals and visitors, the temple was restored.  After the restoration, the temple still looks ancient with traditional architecture. The conservation of the temple reflects the respect that Vietnamese have for Chu Van An, an exemplary educator of all time.

 

Particularly, Thanh Tri residents feel proud that the temple was constructed in their homeland, Thanh Liet Commune. Every year, on the 4th of Lunar New Year, The People’s Committee of Thanh Tri hold Khai But ceremony (Begin a new year by writing) to commemorate Chu Van An, as well as, to show respect for traditional fondness for learning. Many other ceremonies to honour the great educators of Vietnam are organized in Thanh Tri District, the homeland of Chu Van An, including:

-‘Mua Khai truong’(The ceremony to start a new school year) on August 15th(Chu Van An’s Birthday)

 ‘Le hoi ve nguon’(Novenber 26th , the ceremony to commemorate Chu Van An’s Death)

-‘Le hoi mua thi’(the ceremony to pray for a lucky school year)

- Vietnamese Teachers’ Day on November 20th : the ceremony to commemorate Chu Van An

The above-mentioned ceremonies reflect deep respect of the residents in Thanh Tri and Hanoi paid for Chu Van An. This gives proof of long-lasting existence of Chu Van An in the hearts of Vietnamese people, especially the residents in Thanh Tri District.

Source:  Seminar “Chu Van An, life and career

Translator: Chuong Van 


PRINCIPAL CHU VAN AN AND VAN MIEU-QUOC TU GIAM IN THANG LONG

 

Chu Van An, also known as Linh Triet, was born in Quang Liet Commune, Long Dam District(now Thanh Liet Commune, Thanh Tri District, Hanoi) in 1292. As an upright, talented educator, he made considerable contributions to Confucian education of Vietnam, especially to training talents and defining the role of Confucianism in national management and development. For many years, he has become a model educator for many generations in Vietnam. Today, Chu Van An has been still considered as the first Head Master of Quoc Tu Giam who had a significant influence on Van Mieu-Quoc Tu Giam and education system of Vietnam in the 14th Century.

 

Statue of Chu Van An in Van Mieu-Quoc Tu Giam 

Van Mieu and Quoc Tu Giam in Thang Long were established in the late 11th century.  Van Mieu- the Temple of Literature was founded in 1070 under the reign of King Ly Thanh Tong to worship Confucius and the Confucian scholars. It was also a place to educate  Crown Princes. Six years later (1076), an official state school  called Quoc Tu Giam was established as a royal school for royal children.

Under the Ly dynasty, Van Mieu - Quoc Tu Giam did not receive much attention from the court, so education was not fully fostered.  During this time, only a few events were recorded, such as  in 1075, the court held the first examination to select talented men. This exam can be considered as the first examination in  the history of Confucian education. Subsequently, in 1077, the Ly dynasty held another examination, the candidates had to take a written test, then did the maths and answered law questions. However, this exmination was not really a confucian examination. The importance and use of Confucianism had not been appreciated until 1156 when  King Ly Anh Tong ordered the foundation of  the Temple of Confucius, and 10 years later in1165 confucian examinations were held. Until the end of the Ly dynasty, there are several events recorded as in 1171, the Temple of Confucius was rebuilt;  in 1195,  the Three- Religion examination (Confucianism, Buddhism, Taoism) was held. Apparently, under  Ly dynasty, Confucian studies began to be noticed by the court, but not seriously. Van Mieu and Quoc Tu Giam were founded to honor the ancestor of Confucianism and for the noble children to study there. However,  Confucianism and Confucianists had  not  been really valued in the Ly dynasty.

Tran Thai Tong(Tran dynasty) came to the throne  in 1225, ruling over Tran dynasty. The King was interested in training and looking out for talents. In 1232, Tran Thai Tong ordered to hold the first Confucian Examination. The successful candidates would be classified into three ranks based on the levels they had achieved in the exam.  Four years later, in 1236, Tran Thai Tong chose not only confucian students but also a special official who was responsible for  the  work in Quoc Tu Giam. In 1243, King Tran Thai Tong ordered the repairs of  Quoc Tu Giam; later in  1246, the king issued a decree that said a doctoral examinations was held  every 7 years.  After that, in 1247, an examination was held and Nguyen Hien was the best candidate that achieved the title Trang Nguyen, Le Van Huu was the second best one - Bang Nhan, Dang Ma La was the third best one-Tham Hoa. In 1253, the king ordered the establishment of  the National Academy and in September that year, he invited his Confucian scholars to the National Academic to teach the Confucian Classics

A series of events  proved the importance of Confucianism and Confucian education in society. In particular, the court recognized the role of the teacher in Quoc Tu Giam, so in 1272, King Tran Thanh Tong issued a proclamation  for looking out for talents for the position of Principal of Quoc Tu Giam. Thus, Van Mieu-Quoc Tu Giam had truly become the highest education center of Dai Viet. Because it is the place of study  for managers, leaders of country, moreover, the training had become better and the person in charge of the school's affairs was a Thuong thu(Now Minister). Candidates would take the exams to obtain Ph.D. certificates-the highest degree. The study here was also the highest level: classics of Confucianism: Four Books and Five Classics Chu Van An was born in the countryside of Thang Long, he was famous for his Confucian knowledge. There is no evidence that he participated and passed any exams but his status and talent were recorded in many documents and handed down among generations. The Complete Annals of Dai Viet by Ngo Si Lien said "An (a native of Thanh Dam district), an upright and disinterested man, he is at home reading books and comprehensively understands  confucian teachings, so his class is always full of students. His students then are successful in studies and work for the government. One of his successful students are Pham Su Manh, Le Ba Quat, the both are civil mandarins, however,  when they came to visit the teacher, they would kneel down next to his bed talking to their teacher a few sentences and then went away. any bad students were seriously scolded, even got no permission to meet him again. " It is also said by Ngo Si Lien that, Chu Van An was invited by King Tran Minh Tong  to the capital to  teach the Crown Prince Tran Vuong, and was appointed as the  Principal of  Quoc Tu Giam.

In the context when the court needed talented people who are interested in teaching Confucianism as mentioned above,  so the finding a qualified and wise person like Chu Van An is a good fortune.  That King Tran Minh Tong invited him to work as a Principal and at the same time to teach the Prince proves  his prestige and talents in academia and society. So far there is no information on exactly what year he was invited to serve as a Principal of Quoc Tu Giam, but there are two things we can say for sure: First, Chu Van An held the highest position in Quoc Tu Giam. Second, he was the first Principal to be officially recognized.

Historically speaking, since Quoc Tu Giam was officially mentioned in 1076, until 1272 it was mentioned that the selecting a Principal for Quoc Tu Giam was carried out, and that the chosen person should be "Good, ethical and expert in Confucian Classics" , but no documents say, in this election, King Tran Thanh Tong selected whom to appoint, and no documents clearly explain  What a principal did in Quoc Tu Giam. To further understand, let's try to find out what responsibilities a principal of Quoc Tu Giam took. According to Dr. Dang Kim Ngoc, "Tu nghiep (or Principal), literally, is the person in charge of the education and training of talents" , Therefore, Tu nghiep was the highest position  in Quoc Tu Giam.

Thus, it can be seen that Chu Van An was King Minh Tong invited to Quoc Tu Giam and taught the Prince about the end of 1328. The following year, in1329, Prince Vuong came to the throne, it was King Tran Hien Tong . Chu Van An worked throughout the life of Emperor Tông (1329-1341), into the Trần Dụ Tông (1341-1369). In this time, the history said that Chu Van An submitted a petition to the King but was not replied, so he resigned and then secluded himself from society. Thus, the time he submiited the petition to the King was the time he left Quoc Tu Giam, and that is when the court got into a chaotic political situation, many bad civil mandarins abused their power. Said about King Tran Du Tong in the Complete Annals of Dai Viet by Ngô Sĩ Liên, the period of chaos was during the period of Dai Tri (1358-1369). Thus, it can be predicted that in the early 60s of the 14th century, Chu Van An found that King Tran Du Tong did not care about the fate of his nation, so he tried to persuade the king. In contrast, the king did not give him any responses. Thus, the time Chu Van An worked in  Quoc Tu Giam is from 1328 to about 1360. With more than 30 years of holding the position of a Principal in charge of education and the training  of talents in Quoc Tu Giam, Chu Van An did specific work that contributed to the development of Confucianism, and to training talents for the country. There are no specific records of the work that Chu Van An did at the school, but it is certain that, in addition to teaching the Prince, Chu Van An took responsibility for education in Quoc Tu Giam. He  must have planned and prepared for the content of learning and training for the children at the school. Perhaps the lectures, educational content of Chu Van An during his career were summarized from the lectures when he was a teacher at the school in Huynh Cung, and then, gathered into the book Tu thu thuyet uoc that the later generations have been still referring to (unfortunately, we have not found this book yet). During the period when Chu Van An was still in office(from about 1328 to 1460), the court did not hold any examinations (or it did but the events were not recorded in historical documents). Except in 1345, the document did not  list the name of the people  who had passed, as well as their significant contributions to the educational development of the country. Possibly,  the court had no need for personnel, or held examinations  but not excellent people were found.  This needs more evidence, but there can be a hypothesis that at that time, Quoc Tu Giam had trained enough personnel for the court, so the court had no need to look out for more talents in the society. If so, then the contribution of Chu Van An is so great. That explains why later generations highly appreciate Chu Van An's contribution to education, consider him "the model Confucianist to be worshiped in  the Temple of Literature "

Chu Van An left the Quoc Tu Giam at the age of 60, even then he was invited to hold another positions (not Principal of  Quoc Tu Giam), but he refused. But his life, born to have a special relation with the Temple of Literature, so when he died in 1370, he was worshiped here. This must have been a big decision of the court at the time, and a special blessing to Chu Van An. He was the first Vietnamese to be worshiped  in the Temple of Literature. After that, Truong Han Sieu and Do Tu Binh were two other Vietnamese people who were worshiped by Tran dynasty in 1372 and 1380. The worship of the three men in The Temple of Literature marks the important step in the reception of Confucianism. However, among the three who were worshiped in the Temple of Literature under the Tran Dynasty, only Chu Van An was the one who was considered by the following generations to be the most worthy.

Over the course of history, even when Confucianism is no longer used since the last examination  held in 1919, Chu Van An has always been a symbol of Vietnamese education, always honored and respected in Van Mieu. In particular, to honor the study, honor the model teacher of Vietnam, the state had the statue of Chu Van An made in 2003 and honored him at the first floor of Rear building(Thai Hoc section) where he taught his students.

the statue of Chu Van An at Van Mieu-Quoc Tu Giam is now put in the middle of the Rear building, where thousands of people come to offer incense. It is a reverence, honor of this generation. Hopefully, the generations of Vietnamese, as well as tourists  always pay their respects to the moral teacher. Hence, they try to follow the  good example of the predecessors . Chu Van An - the model teacher of Vietnamese education, who has associated with the development of Van Mieu - Quoc Tu Giam has become a symbol of education  in Vietnam.

Writer: Nguyen Van Tu 
Source: Scientific seminar “Chu Van An-Life and Cereer” 

Translator: Chuong Van 

 


TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM CHU VĂN AN (1292 - 1370)

Chu Văn An (1292 - 1370), tự Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn đỗ Thái học sinh triều Trần nhưng không ra làm quan mà trở về quê để mở trường dạy học. Cuộc đời ông có thể chia ra thành ba thời kì chính, đó là: thời kỳ mở trường dạy học ở quê nhà, thời kỳ ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám Thăng Long và thời kỳ lui về sống ở núi Phượng Hoàng, Chí Linh. Sự nghiệp giáo dục được coi là sự nghiệp xuyên suốt cả ba thời kỳ này.

 

Description: http://api.vanmieu.gov.vn/rivera-resource/media/upload/2016/08/26/tuong-chu-van-an-1-20160715103226655-20160826151220524.jpg

Tượng thờ Tư nghiệp Quốc tử Giám Chu Văn An tại nhà Thái Học (Ảnh P.NCST)

 

Khi còn ở quê hương, Thầy mở trường dạy học ở Huỳnh Cung, nằm ven sông Tô Lịch. Ngôi trường nổi tiếng khắp xa gần, học trò từ các nơi tìm về xin được thụ giáo. Nhiều học trò của Thầy đỗ đạt và thăng tiến trên bước đường quan trường, trong số đó, phải kể đến hai nhân vật nổi tiếng là Phạm Sư Mạnh và Lê Quát. Đây là hai vị học quan có nhiều công lao đóng góp cho lịch sử nước nhà, đồng thời cũng là hai tác gia lớn được lưu danh trong lịch sử văn học Việt Nam.

Qua các nguồn tư liệu cho thấy, Thầy Chu Văn An không chỉ là người thông tuệ kinh sách mà còn là một nhà giáo rất nghiêm khắc, lấy mình làm gương mẫu cho học trò noi theo. Những học trò cũ tuy đã làm quan đầu triều như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát nhưng khi về thăm thầy, đều giữ đạo của người học trò quỳ dưới chân giường để nghe thầy dạy bảo. Được thầy khuyên bảo, khen chê đều rất phấn khởi. Ngược lại, có những học trò làm quan to trong triều nhưng không giữ gìn được phẩm hạnh thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí đuổi ra không cho vào hầu.

Chu Văn An đã nổi danh từ những năm tháng mở trường dạy học ở quê nhà với “học trò đầy cửa”. Và cũng chính do tài năng, nhân cách, phương pháp đào tạo học trò mà Thầy đã được vua Trần Minh Tông (1314-1329) mời đến Thăng Long giữ chức Quốc Tử Giám Tư nghiệp và dạy cho Thái tử Trần Vượng (tức vua Trần Hiến Tông sau này).

Trong thời gian ở cương vị đứng đầu trường Quốc Tử Giám, Thầy đã có nhiều đóng góp trong việc hoàn thiện chương trình truyền dạy tư tưởng Nho giáo và đào tạo nhân tài cho đất nước, là một trong những vị hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quốc học nước nhà. Trải qua trên dưới 30 năm ở cương vị này, từ việc dạy dỗ các thái tử đến những công việc viết sách giáo khoa, đề xuất các tiêu chí chọn người vào học, chương trình giảng dạy, thi cử để đào tạo và tuyển chọn nhân tài cho đất nước, những cống hiến của  Chu Văn An với sự nghiệp giáo dục nước nhà quả thực to lớn, không ai sánh bằng, như Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí đã viết: “Ông Văn Trinh học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, được thời ấy suy tôn, thời sau ngưỡng mộ. Tìm trong làng Nho ở nước Việt ta, từ trước đến nay chỉ có mình ông, các ông khác thực không thể so sánh được”( Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nxb Giáo Dục, H. 2007, tr.365).

Thầy Chu Văn An được triều đình tin tưởng giao cho đảm nhận trọng trách dạy dỗ Thái tử Trần Vượng (Người sau này trở thành vua Trần Hiến Tông). Thầy còn dốc lòng phò giúp Thái tử Hạo nối ngôi, trở thành vua Trần Dụ Tông (1341 - 1369). Tuy nhiên do Vua Trần Dụ Tông ngày càng trở nên sa đọa, bỏ bê việc triều chính,  khuyên can Vua không được, Thầy đã khẳng khái dâng “Thất trảm sớ” xin chém đầu bảy tên nịnh thần để mong giữ yên triều chính. Vua không nghe, Thầy liền trả mũ áo từ quan lui về ở ẩn, nêu tấm gương sáng về khí tiết cho muôn đời sau noi theo.

Không riêng gì Chu Văn An mà khá nhiều bậc danh sĩ thời phong kiến đều sống theo phương châm “dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng” có nghĩa: được dùng thì hành đạo, không được dùng thì lui về ở ẩn. Chu Văn An cũng như nhiều bậc minh triết khác, sau khi trả mũ áo từ quan đã về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, Chí Linh. Đây cũng là những năm tháng Thầy miệt mài dạy học, nghiên cứu y học, làm thuốc, viết sách, làm thơ. Di tích Điện Lưu Quang – nơi Thầy Chu Văn An từng ở và làm nhà học để dạy môn sinh, giếng Son là nơi thầy trò cùng lấy nước mài mực … mãi ghi dấu những năm tháng cuối đời của Thầy Chu. Ngoài việc trực tiếp dạy dỗ môn sinh, Thầy còn nghiên cứu biên soạn sách giáo khoa. Tương truyền những năm tháng cuối đời ở núi Phượng Hoàng, Chu Văn An có viết một số tác phẩm như: Tứ thư thuyết ước (bộ sách chú giải bộ sách giáo khoa mang tính kinh điển của Nho gia: Tứ Thư), Y học yếu giải, một số sách khác và 12 bài thơ chữ Hán. Thơ của Thầy mang phong cách hoài cổ, ưu tư, ý tưởng nhẹ nhàng, lời thơ thanh thoát, ngôn từ nhã đạm nhưng canh cánh một nỗi niềm lo nước, thương dân:

“Thốn tâm thù vị như hôi thổ,

Văn thuyết tiên hoàng lệ ám huy”

                                                                              Tạm dịch:

Tấc son nào đã như tro đất,

Nghe nói tiên hoàng giọt lệ sa

(Trích bài thơ “Miết Trì” của Thầy Chu Văn An

Có thể nói, Chu Văn An đã dành cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước. Thầy không chỉ là người thầy đã thành công trong việc truyền đạt kiến thức Nho gia để đào tạo môn sinh mà còn là người đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc truyền đạt, giảng giải tri thức với việc giảng dạy đạo làm người, làm quan. Ngày 26 tháng 11 năm Canh Tuất (1370), Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An qua đời ở núi Phượng Hoàng. Thầy được đã được truy tặng tước Công – tước phẩm cao nhất và được tòng tự ở Văn Miếu./.

Ths. Đường Ngọc Hà

Trưởng phòng Nghiệp vụ - Thuyết minh Trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám


TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC - KHOA BẢNG CỦA DÒNG HỌ NGHIÊM, YÊN PHONG, BẮC NINH

 

Làng Quan Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là một làng có lịch sử lâu đời, giàu truyền thống văn hiến, tiêu biểu là truyền thống hiếu học, khoa bảng.

Trong lịch sử tồn tại và phát triển trên 8 thế kỷ, gia tộc họ Nghiêm làng Quan Độ đã xây dựng, phát triển những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đó là thượng võ và văn hiến. Nhiều người trong gia tộc đã trở thành những nhân vật lịch sử, những danh nhân văn hóa. Bên cạnh những vị cống hiến tài đức cho sự nghiệp bảo vệ và binh bang đất nước dưới thời phong kiến như cụ Nghiêm Tĩnh, cụ Võ tướng Nghiêm Kế còn có rất nhiều những danh nhân khoa bảng. Thời phong kiến, họ Nghiêm làng Quan Độ có nhiều tấm gương điển hình về thông minh, hiếu học, có ý chí tiến thủ bằng học vấn và khoa bảng tiêu biểu như: Nghiêm Thức, Nghiêm Phụ, Nghiêm Ích Khiêm, Nghiêm Lý, Nghiêm Khắc Nhượng, Nghiêm Công Cương, Nghiêm Xuân Diên, Nghiêm Trực Phương, Nghiêm Kính Giản…

Mỗi người trong dòng họ Nghiêm đều cần cù hiếu học, có nhiều vị đi thi rất nhiều lần không đỗ mà chưa hề chùn bước, có thể kể tới: Nghiêm Thúy, Nghiêm Huấn. Có nhiều vị đi dự thi ở cả hai triều đại, chẳng hạn như: Nghiêm Xuân, Nghiêm Trực Phương, Nghiêm Danh Soạn.

Không chỉ làm quan và cống hiến tài đức cho dân, cho nước, nhiều bậc khoa bảng họ Nghiêm ở Quan Độ còn tham gia vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhân tài cho đất nước như: Nghiêm Kính Giản về trí sĩ khi 56 tuổi, ông mở trường dạy học tại quê hương. Học trò theo học rất đông, có tới 300 người. Nghiêm Xuân Diên đỗ Cử nhân thời vua Lê Thần Tông, cụ về mở trường dạy học, tập hợp được rất đông học trò, theo sử sách ghi lại có thời tới 400 người. Rồi cụ Nghiêm Soạn đến triều Tây Sơn, thi đỗ Cử nhân, những không cầu danh lợi, và đi dạy học, con số người theo học cụ lên tới 500 người.

Trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước hiện nay, nhiều con em của họ Nghiêm Quan Độ đã thành đạt trên con đường học vấn và khoa cử. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay Quan Độ có 16 người tốt nghiệp Cao Đẳng, 53 người có trình độ Đại học (trong đó có 17 kỹ sư, 1 bác sĩ) và có 6 người đạt học vị Thạc sĩ. Điều đáng ghi nhận là các con em họ Nghiêm ở Quan Độ dù vẫn ở quê hay làm ăn xa quê, dù thành đạt trong các công tác tại các cơ quan nhà nước, hay thành đạt trong kinh doanh sản xuất đều gắn bó với quê hương bằng nhiều việc làm thiết thực như đóng góp tiền của, công sức để tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử của gia tộc như: từ đường, đền thờ, lăng mộ của dòng họ (đền Đại Tư Mã, đền thờ Bắc vệ Đại tướng quân Nghiêm Kế, mộ Nghiêm Quý Công …)

Nhìn vào con đường khoa cử, văn nghiệp giáo dục cho chúng ta thấy họ Nghiêm ở Quan Độ đã đóng góp cho đất nước nhiều hiền tài. Ngày nay con cháu họ Nghiêm ở Quan Độ không chỉ đóng góp sức người, sức của cho công cuộc bảo vệ tổ quốc mà còn có tinh thần lao động cần cù xây dựng quê hương. Họ luôn phấn đấu và nỗ lực không ngừng nghỉ để bảo tồn và phát huy truyền thống của gia tộc nói chung và truyền thống hiếu học - khoa bảng nói riêng.

 

Bài và ảnh: Ngọc Tùng


TEACHER CHU VAN AN - YEARS OF TEACHING AT HUYNH CUNG SCHOOL

 

Thanh Tri - the land along Thang Long capital is known for many talents of the nation, including the prominent teacher Chu Van An (1292-1370). Legend has it that when Chu Van An was young, he was very keen on reading books and studied by himself . Later Chu Văn An was awarded the title Thai Hoc Sinh (doctor degree) under the Tran dynasty. However, he did not work as a mandarin. He founded a private school to train many talents for the nation.

Chu Van An statue being worshiped in Văn Miếu-Quốc Tử Giám

The first part of mylife is associated with Huynh Cung school on the banks of the To river (To Lich).  The school was built right on the mound adjacent to the two villages of Quang Liet and Cung Hoang (now belonging to Thanh Liet commune, Thanh Tri district, Hanoi).  Chu An’s school soon became full of students from all over Thang Long Citadel, Kinh Bac province, Chau Ai province , Chau Hoan province, Thanh province, Nghe  province... school full of students.

Well-known for his profound education, and strict discipline, Chu Van An not only imparted knowledge about benevolence, righteousness, rite, knowledge, and loyalty but also focused on forging his students' serious virtue in work, moral lessons, love and respect for their families, and to teach mandarins to respect people and care about their life ... etc.

His students always paid respect to him because he was full of integrity. His students, some of whom were even ministers or prime-minister, treated him as a teacher, and those who were invited in usually knelt to listen to him. Those who were not good mandarins would be driven away.

During Chu Van An’s tenuret Huynh Cung School, it should be emphasized that: Starting from the Ly dynasty (XI-XIII century), under Tran dynasty (XIII-XV century), Le (XV-XVIII century), Nguyen (XIX-XX century), a system of Confucian schools was established from the central to local levels, starting from Quoc Tu Giam Thang Long (1076) (the first University) and then spreading to provinces and districts throughout the country.

In 1281 the court established a school in Thien Truong province, in 1397 placed educational officials in Kinh Bac, Son Nam and Hai Dong; Schools and classes were opened throughout the regions from Thang Long Citadel, Red River basin, Thai Binh River to Thanh Hoa, Nghe An; By the end of the eighteenth century, most of the provinces and cities had public schools, all villages in the country had private schools, contributing to training of the talented men for the nation. Huynh Cung School, founded by Chu Van in Thanh Tri was one of the first private schools in Vietnam.

Translator: Le Huong


CHU VAN AN – THE STATUE OF A TEACHER IN THE HEART OF VIETNAMESE NATION

Every year from March to May hundreds of schools inside and outside of Ha Noi capital visit Quoc Tu Giam (the first University of Viet Nam) to offer incense to teacher Chu Van An and encourage students to study and follow Chu Van An. In 2018 over 700 schools with more than 120.000 students offered incense to honour scholar Chu Van An at Van Mieu – Quoc Tu Giam.

Chu Van An was a famous confucian scholar and a great teacher under the Tran dynasty. Chu Văn An was awarded the title Thai Học Sinh (doctor degree) under the Tran dynasty (1226 – 1400). However, he did not work as a mandarin, but instead founded a private school to train many scholars for the nation. He was renowned for his integrity and righteousness when he was a teacher at a private school, Director of Quoc Tu Giam (the first University) and even when he taught a prince. He devoted all his time to education.

 

The statue of Chu Van An at Van Mieu-Quoc Tu Giam

He always advocated that education was for everyone. Chu Van An directed people to a model of kindness and righteousness in their daily lives. He taught students that learning must be practiced, focusing on developing skills and knowledge, encouraging students to "think, arouse and discover the truth, as well as, the hidden ability of each person" in order to fulfill their responsibilities to the family and society.

Throughout our country, there are currently 50 schools named Chu Van An and 22/64 provinces and cities have roads and streets named Chu Van An. On the occasion of the 650th anniversary of his death, the scholar Chu Van An Profile was developed by the Hanoi Department of Culture and Sport and submitted to UNESCO for expected approval in April 2019.

 

Pupils in the incense offering ceremony to commemorate teacher Chu Van An 

(Data extracted: Yearbook of Chu Van An Scientific Workshop - The Centre for Scientific and Cultural Activities Van Mieu-Quoc Tu Giam)

Translator: Le Huong


TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM CHU VĂN AN

 

Chu Văn An (1292-1370) sinh tại làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Việt Nam). Ông là một nhà giáo mẫu mực của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời Chu Văn An gắn liền với việc dạy học, làm thầy ở ba không gian: quê hương Thanh Liệt (Thanh Trì), Quốc Tử Giám (Thăng Long) và Chí Linh (Hải Dương). Năm 1324, Chu Văn An được vua Trần Minh Tông mời ra giữ chức Tư nghiệp trường Quốc Tử Giám. Quốc Tử Giám - Trung tâm giáo dục cao cấp nhất của Việt Nam thời quân chủ để đào tạo nhân tài cho đất nước. Chu Văn An chính là vị Tư nghiệp Quốc Tử Giám đầu tiên.

 

Tượng thờ Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An tại Khu Thái Học


Chu Văn An tấm gương mẫu mực về đạo đức, trí tuệ và tinh thần, trách nhiệm với đất nước. Ông không chỉ dạy chữ và tri thức mà còn dạy làm người (tư tưởng, đạo đức, phẩm tiết) dạy học trò biết ứng xử với xã hội, với chính mình và với thiên nhiên - đây cũng chính là giá trị nhân sinh trong thời đại ngày nay. 
Sinh thời, Chu Văn An luôn đề cao vai trò của tri thức, của giáo dục, đào tạo và của văn hóa trong công cuộc xây dựng quốc gia, dân tộc vững mạnh, yêu hòa bình. Nhân dân Việt Nam lưu truyền câu nói của ông: “Ta chưa từng nghe nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được”. 
Hiện tại có tới 22/64 tỉnh, thành phố trải dài trên khắp đất nước Việt Nam có đường, phố mang tên của ông gồm: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa,… Trong số 22 tỉnh, thành phố có tên Chu Văn An có 09 phố, 23 đường.
Bên cạnh đường, phố, còn có rất nhiều trường học ở các cấp mang tên Chu Văn An. Trong cả nước có 50 trường học mang tên Chu Văn An gồm: 10 trường Tiểu học, 19 trường Trung học Cơ sở, 17 trường Trung học phổ thông, 03 trường Liên cấp và 01 trường Đại học. Năm 2018, Trung tâm Hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám được giao nhiệm vụ xây dựng hồ sơ để trình UNESCO đề nghị cùng kỷ niệm 650 năm ngày mất của Chu Văn An vào năm 2020.



SERVICES


VISITING THE RELIC

Advice and itinerary to better plan your visit

Detail

VISITING RULES

The things to note when visiting

Detail

FAQS

Frequently Asked Questions

Detail