DI TÍCH

VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM THỜI LÝ, TRẦN, HỒ

 

 

Văn Miếu được lập dưới thời Lý Thánh Tông, năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối (bốn học trò xuất sắc của Khổng Tử là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử), và Thất thập nhị hiền (72 nhà Nho tiêu biểu được tôn lên bậc Hiền triết), đồng thời là nơi Hoàng Thái tử Lý Càn Đức tới học. Quốc Tử Giám được lập dưới thời Lý Nhân Tông, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 (1076) là nơi để quan viên văn chức biết chữ và con em Hoàng gia, Đại thần ở Kinh đô đến học. Khi mới thành lập, quy mô của Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn khiêm tốn nhưng theo đà phát triển của vị thế Nho giáo trong xã hội, Văn Miếu – Quốc Tử Giám dần được quan tâm, tu sửa mở rộng hơn. Đến thời Trần, dù Phật giáo vẫn còn phát triển mạnh, dù rất bộn bề bởi các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, nhưng các vua Trần vẫn quan tâm đến Văn Miếu - Quốc Tử Giám và việc giáo dục Nho học. Năm 1236, triều đình lấy Phạm Ứng Thần giữ chức Thượng thư kiêm Đề điệu Quốc Tử viện để trông nom công việc học tập tại Quốc Tử viện. Triều đình cho trùng tu Quốc Tử viện vào năm 1243, xuống chiếu tô tượng Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử vào năm 1253 để thờ và cho vời nho sĩ trong nước đến Quốc Tử viện giảng Tứ thư, Lục kinh. Việc lập Quốc Tử viện (Giám (trường) được đổi thành viện) làm nơi học tập cho quan viên biết chữ ở các địa phương và con em nhà vua, quan đại thần ở kinh đô đánh dấu sự trưởng thành cũng như vai trò to lớn của Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong thời kỳ này. Văn Miếu thời Trần đã được tu sửa khang trang đẹp đẽ.

Năm 1272, nhà vua xuống chiếu cho tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách (Tứ thư, Ngũ kinh) giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám (người đứng đầu trường Quốc Tử Giám). Dưới thời vua Trần Minh Tông (1314-1329), thầy giáo Chu Văn An (người làng Thịnh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) được triều đình cử giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Ngoài Tư nghiệp ra, tại Quốc Tử Giám còn có học quan khác là Trợ giáo như Trợ giáo Đoàn Xuân Lôi…

Dưới thời Trần, Văn Miếu vẫn là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối và Thất thập nhị hiền. Sau này, triều đình cho phối thờ thêm Tư nghiệp Chu Văn An (1370), Trương Hán Siêu (1371) và Đỗ Tử Bình (1380). Đây là trường hợp đặc biệt, thể hiện rõ tư tưởng tự chủ, tự cường của Quốc gia Đại Việt bấy giờ, đồng thời cũng là nét rất riêng của Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Thời Hồ, Văn Miếu – Quốc Tử Giám không có nhiều thay đổi.


VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM THỜI LÊ SƠ - MẠC

 

 

Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi (1428), vương triều Lê chính thức được kiến lập và bắt đầu công cuộc ổn định, xây dựng, phát triển đất nước. Văn Miếu - Quốc Tử Giám thời Lê sơ được quan tâm đặc biệt. Đây cũng là thời kỳ Văn Miếu - Quốc Tử Giám và nền giáo dục khoa cử theo Nho giáo phát triển rực rỡ. Ngay trong những năm đầu lên ngôi, vua Lê Thái Tổ cho mở nhà học, lấy cỗ Thái lao (cỗ tam sinh: Trâu, bò, dê) để tế Khổng Tử. Vua Lê Thái Tổ đã cho chọn con cháu các quan và nhà thường dân tuấn tú vào Quốc Tử Giám làm Giám sinh và xuân thu nhị kỳ đích thân nhà vua làm chủ tế tại Văn Miếu.

Dưới thời vua Lê Thái Tông (1433-1442) và Lê Thánh Tông (1460-1497), Văn Miếu – Quốc Tử Giám được quan tâm đặc biệt. Vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484), triều đình cho đại trùng tu Văn Miếu - Quốc Tử Giám, khang trang to đẹp:“Đằng trước nhà Thái học dựng Văn Miếu. Khu vũ của Văn Miếu có: điện Đại Thành để thờ Tiên Thánh, Đông vũ và Tây vũ chia ra thờ các Tiên hiền, Tiên nho; điện Canh Phục để làm nơi túc yết. Một kho để chứa đồ tế khí và một phòng để làm nhà bếp; đằng sau nhà Thái học, dựng cửa Thái học, nhà Minh Luân. Giảng đường phía đông và giảng đường phía tây thì để làm chỗ giảng dạy các học sinh. Lại đặt thêm kho Bí thư để chứa ván gỗ đã khắc thành sách; bên đông, bên tây nhà Thái học làm nhà cho học sinh trong ba xá, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy 25 gian để làm chỗ nghỉ ngơi của học sinh”(Đại Việt sử ký toàn thư).

Cũng trong năm 1484, sau khi hoàn thành việc trùng tu, Vua Lê Thánh Tông cho dựng 10 bia đá ghi về các khoa thi Tiến sĩ được tổ chức từ năm 1442 đến 1484 cũng như tên họ, quê quán những người đỗ. Đây là sự kiện đặc biệt, khởi đầu cho lệ dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu. Nhà Vua chọn các nhà Nho tài năng soạn văn bia nhằm khích lệ, đề cao đạo học và những người hiền tài. Trên tấm bia dựng cho khoa thi năm 1442, khoa thi đầu tiên được dựng bia, Thân Nhân Trung đã viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí suy thì thế nước kém và suy vì thế không bậc thánh đế minh vương nào không chăm lo gây dựng nhân tài, đắp bồi nguyên khí”. Có thể coi đây là phương châm, tuyên ngôn về giáo dục của các triều đại phong kiến Việt Nam, cũng là phương châm giáo dục của mọi thời đại.

Dưới thời Lê, Quốc Tử Giám được nâng cấp thực sự trở thành một Trung tâm giáo dục Nho học cao cấp của nhà nước, có bộ máy quản lý hoàn chỉnh và cách thức tổ chức học tập bài bản. Quốc Tử Giám thời Lê còn được gọi là Thái học viện. Quy chế lựa chọn Giám sinh chặt chẽ, rõ ràng: Người thi Hội trúng ba kỳ thì sung vào Thượng xá sinh, trúng hai kỳ sung vào Trung xá sinh, trúng một kỳ sung vào hạng Hạ xá sinh. Mỗi xá 100 người, việc cất nhắc bổ dụng căn cứ theo ba hạng đó. Quy chế tuyển chọn vào Thái Học viện này được áp dụng cho cả thời gian về sau. Đặc biệt, triều đình cho phép tuyển lựa cả con em dân thường có tài, có triển vọng vào học để làm nguồn bổ sung cho bộ máy quản lý đất nước. Ngoài những người đủ tiêu chuẩn được chọn vào học ở Quốc Tử Giám, hàng năm đều có một số lượng lớn các Hương cống từ khắp các địa phương trong nước về Kinh đô theo học. Những người này chỉ cần làm thủ tục ghi tên là được đến nghe giảng bài, tập văn như các Giám sinh. Học trò Quốc Tử Giám mà có lúc đông đến hàng 6000 người.

Thời Lê sơ, đứng đầu Quốc Tử Giám là Tế Tửu, sau đến Tư nghiệp. Tế tửu và Tư nghiệp thường do các danh nho, đại thần tài năng, đạo đức trong sáng đảm nhiệm. Trực giảng, Bác sỹ, Giáo thụ, Trợ giáo là các chức quan giảng dạy. Sách học trong trường cơ bản là Tứ thư và Ngũ kinh, những sách kinh điển của Nho gia. Nội dung học tập ở Quốc Tử Giám chủ yếu dựa theo yêu cầu tuyển chọn của các kỳ thi Hội. Giám sinh tập trung vào việc luyện tập lối văn chương theo những hình thức, quy cách cố định, chuyên dùng cho việc thi cử. Ngoài ra, Giám sinh cũng được học thêm các thể loại văn khác như: Câu đối, văn tế... dùng trong đời sống hàng ngày để biểu lộ cảm nghĩ, mừng vui hay phúng viếng.

Quốc Tử Giám thời Lê sơ còn có nhiệm vụ bảo cử các Giám sinh với triều đình để bổ dụng làm quan. Hàng năm, vào 4 tháng trọng (tháng 2,5,8,11) quan Quốc Tử Giám khảo hạch Giám sinh, nếu trúng thì đề cử để Bộ Lại tuyển dụng khi cần. Quốc Tử Giám còn thực hiện những việc liên quan đến việc khảo đính, biên soạn sách vở, đặc biệt là in ấn các sách kinh điển Nho giáo để cung cấp cho các nho sinh trong cả nước.

Năm 1510, triều đình cho trùng tu Văn Miếu - Quốc Tử Giám với quy mô lớn. Kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám bao gồm: Điện Đại Thành và Đông vu, Tây vu là nơi thờ các bậc Tiên thánh, Tiên hiền của đạo Nho, điện Canh Phục là nơi để đồ tế lễ, và nơi nhà vua thay y phục trước khi tiến hành lễ tế Khổng Tử, khu bia Tiến sĩ; nhà Minh Luân; hai dãy giảng đường bên đông và bên tây, phòng học của sinh viên ba xá; Kho chứa ván khắc in sách của trường Giám, nơi cung cấp sách học cho học sinh trường Giám và các trường ở phủ, lộ.

Năm 1527, nhà Mạc lên thay nhà Lê nhưng vẫn theo nếp cũ về giáo dục khoa cử Nho học của triều Lê sơ. Nhà Mạc cho dựng bia Tiến sĩ khoa thi năm 1529. Đến năm Đại Chính thứ 7 (1536), Mạc Đăng Doanh sai Đông quân Tả đô đốc Khiêm quận công Mạc Đình Khoa trùng tu Quốc Tử Giám. Đây là lần trùng tu Văn Miếu-Quốc Tử Giám duy nhất của nhà Mạc nhưng sử sách không ghi rõ những công việc cụ thể trong đợt trùng tu này. Mùa xuân năm sau (1537), Mạc Đăng Doanh đến Văn Miếu làm lễ tế Tiên thánh, Tiên sư và thăm Quốc Tử Giám. Đến năm 1586, Lại bộ Thượng thư Nghĩa sơn hầu Trần Văn Tuyên dâng biểu xin tu sửa Quốc Tử Giám và 2 giải vũ ở điện Đại Thành, nghi môn, tiền nghi môn ở các giảng đường nhưng Mạc Mậu Hợp không đồng ý.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám dưới thời Lê sơ - Mạc luôn được nhà nước quan tâm và coi trọng, và phát triển về mọi mặt.


VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM THỜI LÊ TRUNG HƯNG

 

Thời Lê Trung hưng, Văn Miếu - Quốc Tử Giám tiếp tục được nhà nước quan tâm, tu sửa, quy mô ngày càng hoàn thiện. Năm 1645, hiện trạng của Văn Miếu - Quốc Tử Giám được miêu tả qua Lê triều chiếu lệnh thiện chính như sau: “Điện Đại Thành ở Quốc Tử Giám (nhà Đại học của quốc gia) có tả hữu ở phía đông, phía tây và 4 nghi môn. Nhà Minh Luân có 2 giảng đường phía đông và phía tây, và cửa nghi môn Sùng Nho 4 mặt xây tường”. Hàng năm việc tu bổ, xây dựng thêm, lát gạch và dọn cỏ, theo lệ cũ do lính ở các huyện, xã và các phường ở hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức

 

Đến năm 1662, các công trình kiến trúc của Quốc Tử Giám nhiều chỗ bị sụt lở, dột nát. Lễ bộ Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ, Thiếu bảo Phạm Công Trứ được giao nhiệm vụ trông coi việc sửa sang Quốc Tử Giám. Phạm Công Trứ cho xây dựng Phán Thuỷ Đường trên gò Kim Châu ở hồ Văn và làm 10 bài thơ vịnh để ghi lại cảnh đẹp. Cứ đến mùng Một và ngày rằm hàng tháng, học trò lại tập trung về Quốc Tử Giám học tập.

Mùa xuân năm Canh Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760), triều đình cho sửa lại nhà Đại Bái và làm hai cột đá hình bút lông dựng phía trước. Đến tháng 9 năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762), chúa Trịnh Doanh cho tu sửa Quốc Tử Giám. Không lâu sau lần sửa chữa này, diện mạo của Văn Miếu - Quốc Tử Giám được Lê Quý Đôn mô tả lại trong sách Kiến văn tiểu lục khá cụ thể: “Cửa Đại Thành 3 gian 2 chái, lợp bằng ngói đồng. Đông vu và Tây vu mỗi dãy đều 7 gian. Đằng sau có cửa nhỏ 1 gian, điện Canh phục 1 gian 2 chái. Nhà bếp 2 gian. Kho tế khí 3 gian 2 chái, cửa Thái Học 3 gian có tường ngang lợp bằng ngói đồng. Nhà bia phía đông và phía tây mỗi dãy đều 12 gian. Kho để ván khắc in sách 4 gian. Ngoại nghi môn 1 gian xung quanh đắp tường. Cửa Hành mã ngoài tường ngang 3 gian. Nhà Minh Luân 3 gian 2 chái. Cửa nhỏ bên tả và bên hữu đều 1 gian, có tường ngang. Nhà giảng dạy ở phía đông và phía tây 2 dãy, mỗi dãy đều 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá ở phía đông và phía tây đều 3 dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người

Năm 1771, hai bia Hạ Mã được dựng phía trước Văn Miếu - Quốc Tử Giám với hàm ý dù quan lại hay dân thường khi đi qua cửa Văn Miếu đều phải xuống ngựa đi bộ qua cửa Văn Miếu nhằm thể hiện sự tôn kính đối với các bậc Tiên thánh, Tiên hiền. Cũng trong năm này, Quan coi Quốc Tử Giám đã cho giải toả nhà ở của dân xung quanh hồ Văn, mở rộng, trồng cây, lát đường. Văn Miếu - Quốc Tử Giám trở lại trang nghiêm như xưa. Năm 1785, Bùi Huy Bích lại cho trùng tu nhà Thái Học.

Dưới thời Lê Trung hưng, đứng đầu Văn Miếu - Quốc Tử Giám vẫn là Tế tửu. Ngoài Tế tửu và Tư nghiệp, học quan còn có Giáo thụ, Trực giảng, Học chính. Năm 1693, nhà vua cho phép các quan Quốc Tử Giám được ở ngay tại trường để tiện cho việc giảng dạy và quản lý Nho sinh. Từ năm 1721 đời Vua Lê Dụ Tông, Tế tửu và Tư nghiệp cũng tham gia giảng dạy. Ngoài ra, triều đình còn cử một vị quan đại thần chuyên lo công việc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám với chức vụ là Tri Quốc Tử Giám (Như Tri Quốc Tử Giám Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Công Thái). Quy chế giảng dạy và học tập của Quốc Tử Giám thời kỳ này về cơ bản vẫn giống như thời Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, ngoài nhiệm vụ dạy, học và bảo cử, Quốc Tử Giám còn thực hiện những việc liên quan đến việc khảo đính, biên soạn sách vở, đặc biệt là in ấn các sách kinh điển của Nho giáo để cung cấp cho các Nho sinh cả trong và ngoài Giám.

Dưới thời Lê Trung hưng, Văn Miếu - Quốc Tử Giám được quan tâm tu bổ nhiều lần, điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với Nho giáo và với nền giáo dục của nước nhà.


VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM GIAI ĐOẠN 1802 - 1945

 

Tứ trụ và cổng Văn Miếu

 Cổng Thái Học

 

Dưới thời Nguyễn, Thăng Long không còn giữ vị trí Kinh đô mà trở thành thủ phủ của phủ Hoài Đức (sau này thuộc trấn Bắc Thành). Văn Miếu trong thời kỳ này được gọi là Văn Miếu trấn Bắc Thành, sau đổi tên thành Văn Miếu Hà Nội, Quốc Tử Giám trở thành trường học của phủ Hoài Đức. Về sau, khu vực này được chuyển đổi thành đền Khải Thánh thờ cha, mẹ của Khổng Tử. Đối tượng thờ tự tại Văn Miếu Hà Nội thời gian này gồm: Khổng Tử, Tứ phối, Thập triết thờ trong điện Đại Thành, Thất thập nhị hiền thờ tại hai dãy nhà Tây, Đông vu. Đền Khải Thánh là nơi thờ cha, mẹ của Khổng Tử. Tuy đã mất đi vị thế là Trung tâm giáo dục cao cấp của đất nước, nhưng Văn Miếu trấn Bắc Thành vẫn được triều Nguyễn quan tâm, trùng tu, tôn tạo.

Năm 1805, Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành đã dựng Khuê Văn Các tại Văn Miếu. Đây là công trình có kiến trúc đặc biệt, một lầu vuông hai tầng, có tám mái theo lối trùng diêm, được xây dựng trên một nền vuông cao lát gạch Bát Tràng. Tầng dưới là 4 trụ gạch vuông, tầng trên là kiến trúc gỗ, mái lợp ngói ống, bốn mặt đều có 4 cửa sổ được trang trí hình tròn, xung quanh có những thanh gỗ con tiện tỏa ra các phía. Khuê Văn Các được ví như hình ảnh của sao Khuê, ngôi sao chủ về văn chương nhằm đề cao trung tâm giáo dục Nho học, góp phần làm tôn thêm giá trị văn hóa và mỹ thuật cho Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Năm 1808, sau khi xây dựng xong Văn Miếu ở kinh đô Huế, nhà Nguyễn đã hạ lệnh cho Văn Miếu các địa phương trong đó có Văn Miếu Bắc Thành thờ thần vị Tiên sư, không thờ tượng. Nơi nào có tượng thì chọn chỗ đất sạch mà chôn đi. Tại Văn Miếu Bắc Thành chỉ còn bài vị Khổng Tử và các vị Tiên hiền, tiên Nho.

Năm 1827, vua Minh Mệnh lệnh chuyển các bản in Ngũ kinh, Tứ thư Đại Toàn và Võ kinh trực giảnglưu giữ ở Văn Miếu Bắc Thành về Quốc Tử Giám Huế. Đến năm 1833, nhà Đại Bái và Điện Đại thành được sơn và sửa lại, tường bao quanh toàn khu Văn Miếu được xây dựng lại. Năm 1858, dựng hai dãy nhà bia Tiến sĩ bên Tả, Hữu vu, mỗi bên 11 gian. Năm 1863, Bố chánh Hà Nội là Hoàng giáp Lê Hữu Thanh cùng Án sát Đặng Tá quyên tiền xây dựng lại nhà bia, mỗi bên 2 tòa, mỗi tòa 11 gian để bảo vệ bia Tiến sĩ.

Sau hiệp ước Patenôtre (1888), người Pháp hoàn toàn nắm quyền cai trị Hà Nội. Giai đoạn 1888 - 1945 là giai đoạn nhiều biến động nhất trong lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Văn Miếu từng bị thực dân Pháp biến thành trại lính và trường bắn, có thời kỳ là khu cách ly cho những người bị mắc dịch tả tại Hà Nội. Đặc biệt, chính phủ bảo hộ Pháp đã cắt phần lớn đất phía Bắc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám để quy hoạch đường phố. Trước sự đấu tranh của nhân dân Hà Nội, quân đội Pháp mới trả lại Di tích này cho chính quyền sở tại quản lý và hoạt động tế lễ được khôi phục tại đây.

Trong thời gian từ 1888-1945, Văn Miếu đã trải qua các đợt trùng tu vào các năm 1888, 1897 - 1901 và 1904 – 1909. Đặc biệt, đợt trùng tu năm 1888 được coi là đợt trùng tu lớn cuối cùng ở Văn Miếu Hà Nội dưới thời phong kiến. Việc tu sửa này được ghi chép trên biển gỗ, hoành phi“Đại Thành môn”, “Vạn thế sư biểu”. Ngoài ra, để vỗ về người Việt, Công sứ toàn quyền Bắc Kỳ cấp kinh phí sửa chữa các gian thờ, mua sắm đồ tế khí và xin cho giữ lợi tức thu được trên 12.300m2 đất xung quanh để bảo quản và tu bổ Văn Miếu. Năm 1906, Toàn quyền Đông Dương đã xếp hạng khu vực Văn Miếu - Quốc Tử Giám là Di tích lịch sử, văn hóa.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội dưới thời Nguyễn (1802-1845) trải qua nhiều thăng trầm, song Văn Miếu – Quốc Tử Giám vẫn luôn được bảo vệ, giữ gìn, xứng đáng là Trung tâm giáo dục, văn hóa tiêu biểu của cả nước.


VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM GIAI ĐOẠN TỪ 1945 ĐẾN 1988

 

Nhà Hữu vu

Nền cũ của Trường Giám (sau khi điện Khải Thánh bị phá hủy)

 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội từ năm 1945 trở đi chỉ còn là nơi thờ tự nên hoạt động duy nhất được tổ chức tại Văn Miếu là tế lễ Khổng Tử và các tiên hiền, tiên Nho. Điều đáng chú ý là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến đây chủ trì buổi tế Thu vào ngày 21/10/1945 và Huỳnh Thúc Kháng - Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trì buổi tế Thu ngày 22/9/1946. Sự kiện này khẳng định vai trò và giá trị to lớn của Văn Miếu-Quốc Tử Giám đối với nền văn hóa của dân tộc trong hoàn cảnh mới của lịch sử.Từ sau tháng 9/1946, việc tổ chức tế lễ được thực hiện theo tinh thần dân chủ, tiến bộ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mỗi năm chỉ tế một lần vào ngày sinh Khổng Tử (ngày 27 tháng 8). Các qui định về cách thức hành lễ đơn giản, chỉ cần lên xuống gối thay cho phủ phục; người dự lễ có thể mặc đồ âu phục; lễ vật cũng đơn giản, tiết kiệm, chỉ cần hoa, quả.Trong thời kỳ Kháng chiến chống Pháp (1946-1954), Văn Miếu - Quốc Tử Giám bị hư hại nhiều. Giai đoạn đầu thời kỳ Toàn quốc Kháng chiến (1946-1947) khu đền Khải Thánh cũng như nhà Đông vu, Tây vu khu Điện Đại Thành đã bị phá hủy.Để bảo vệ Di tích Văn Miếu, một số người tâm huyết với nền văn hóa nước nhà đã đứng ra thành lập Văn Miếu học hiệp hội với mong muốn bảo vệ, tu bổ, tôn tạo di tích. Văn Miếu học hiệp hội đã góp phần quan trọng vào việc gìn giữ di tích này cho đến ngày giải phóng Thủ đô (năm 1954).Năm 1954, sau khi tiếp quản Thủ đô, ngành Văn hóa Hà Nội đã tu sửa lại Văn Miếu, trùng tu hai dãy Đông vu, Tây vu ở hai bên sân Đại Bái.Ngày 28/04/1962, Văn Miếu - Quốc Tử Giám được Bộ Văn hoá xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.Ngày 25/04/1988, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám được thành lập, có trụ sở đặt ngay trong Di tích. Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám có chức năng quản lý, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong giai đoạn mới, góp phần bảo tồn, xây dựng nền văn hóa mới của dân tộc.


LỊCH SỬ KHOA CỬ NHO HỌC VIỆT NAM

Lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam mở đầu bằng khoa thi Tam trường để chọn Minh kinh Bác học vào năm 1075 dưới triều Vua Lý Nhân Tông. Người đỗ đầu kỳ thi này là Lê Văn Thịnh (Bắc Ninh). Nối tiếp các năm 1086, 1152, 1165, 1185 và 1193 nhà Lý đều cho mở các khoa thi Tam trường để chọn người tài nhằm củng cố bộ máy chính quyền. Đến năm 1195, triều đình nhà Lý cho mở khoa thi Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo). Thi Tam giáo tồn tại cho đến năm 1247, đời vua Trần Thái Tông thì chấm dứt.

Dưới triều Trần (1225-1400), chế độ khoa cử phát triển, các khoa thi mở đều đặn, thể lệ rõ ràng hơn. Từ năm 1232, triều Trần mở khoa thi Thái học sinh chọn: Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp và Đệ tam giáp. Năm 1247, đặt danh hiệu tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) cho 3 người trong hàng đệ nhất giáp. Đến năm 1374, triều đình mở khoa thi Đình ở Hoàng cung để chọn người đỗ Tiến sĩ, thay thế cho học vị Thái học sinh. Năm 1396, vua Trần Thuận Tông đặt lệ thi Hương lần đầu tiên để lấy đỗ Cử nhân và quy định cứ 7 năm một kỳ thi, năm trước thi Hương, năm sau thi Hội ở Kinh đô. Thi Hội bắt đầu có từ thời Trần.

Trong 7 năm tồn tại ngắn ngủi (1400 - 1407), triều Hồ cũng có những quan tâm nhất định đối với nền giáo dục nước nhà và vẫn theo phép thi của triều Trần, nhưng qui định 3 năm mở một khoa thi. Năm 1400, triều Hồ tổ chức khoa thi Thái học sinh. Năm 1404, định thể thức thi chọn nhân tài: cứ tháng 8 năm trước thi Hương thì tháng 8 năm sau thi Hội, người đỗ được bổ Thái học sinh.

Dưới triều Lê sơ, khoa cử thịnh đạt và phát triển tới đỉnh cao trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Năm 1434, Vua Lê Thái Tông xuống chiếu định lệ thi Hương, thi Hội và qui định 3 năm mở một khoa thi.

Để được thi Hương, Nho sinh phải trải qua kỳ thi Khảo hạch tổ chức tại địa phương để loại bớt những người chưa thực sự đủ năng lực, đức hạnh. Thi Hương gồm 4 kỳ, đỗ kỳ trước mới được vào kỳ sau. Bốn kỳ thi Hương gồm: kỳ 1 thi Kinh nghĩa; kỳ 2 thi Chế, Chiếu, Biểu; kỳ 3 thi Thơ, Phú; kỳ 4 thi Văn sách. Thi Hương thường được tổ chức ở một bãi đất trống rất rộng như bãi ven sông hoặc những cánh đồng đã thu hoạch. Xung quanh trường thi được rào kín, ở chính giữa dựng một số nhà tranh dùng làm nơi chấm thi. Nho sinh đỗ thi Hương được gọi là Hương cống và được phép tham dự thi Hội.

Thi Hội có thể thức và nội dung như thi Hương, nhưng đòi hỏi trình độ cao hơn. Đỗ cả 4 kỳ thi Hội được tham dự thi Đình. Đỗ đầu thi Hội được gọi là Hội nguyên. Trường thi Hội cũng giống như trường thi Hương.

Thi Đình thường được tổ chức tại sân của Hoàng cung nên còn được gọi là Điện thí. Thí sinh làm một bài văn sách do vua ra đề hỏi về đạo trị nước, sử dụng hiền tài... Thi Đình để phân hạng đỗ cao thấp. Đỗ đầu thi Đình được gọi là Đình nguyên. Theo quy định của triều Lê, người đỗ được phân theo 3 hạng:

Hạng thứ nhất: Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, chỉ gồm 3 người (Tam khôi): Đệ nhất danh (Trạng nguyên), Đệ nhị danh (Bảng Nhãn), Đệ tam danh (Thám hoa).

Hạng thứ hai: Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)

Hạng thứ ba: Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân (Tiến sĩ)

Tuy nhiên, có khoa thi chỉ có 3 người đỗ (như khoa thi năm 1592), có khoa thi đến 62 người đỗ (như khoa thi năm 1478), nên không phải tất cả các khoa thi đều có đủ các hạng, các danh hiệu, không phải cứ đỗ đầu (Đình Nguyên) thì được phong Trạng nguyên. Trong lịch sử khoa cử Việt Nam chỉ có 46 người được phong danh hiệu Trạng nguyên.

Các khoa thi được tổ chức cho tất cả nho sinh trong cả nước, không phân biệt nơi học, tuổi, địa vị xã hội, số lần đã thi. Vì thế, có khoa thi Hội có đến 6.000 Hương cống ứng thí, có nhiều người đang làm quan cũng ứng thí, có người đỗ khi còn rất trẻ, có người đến 68 tuổi mới đỗ (như Quách Đồng Dần đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1634). Tuy nhiên, con nhà“xướng ca”,con nhà tội đồ của triều đình, con nhà bị coi là điêu ngoa, loạn luân và gian dối, người đang để tang cha, mẹ không được thi.

Triều Mạc, Lê Trung hưng sau này đều theo phép thi cử của triều Lê sơ.

Triều Nguyễn định đô ở Huế. Năm 1807, triều đình chính thức mở khoa thi Hương, đồng thời quy định cứ 3 năm một khoa thi Hương vào các năm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu; cùng 3 năm một khoa thi Hội vào các năm: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Trường thi Hương mở ở nhiều nơi cho thí sinh một tỉnh hoặc một số tỉnh như các trường thi: Hà Nội, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên, Gia Định, An Giang. Thi Hội và thi Đình ở kinh đô Huế. Triều Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên, nhưng lấy thêm hạng Phó bảng dưới Tiến sĩ.

Lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam bắt đầu từ năm 1075 và kết thúc vào năm 1919 đã trải qua 183 khoa thi đại khoa, lấy đỗ 2.898 vị bao gồm cả Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ và Phó bảng./.


NHO GIÁO VÀ VIỆC THÀNH LẬP VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM

 

 

Nho giáo là một trong những học thuyết triết học quan trọng bậc nhất của nền văn minh Trung Hoa cổ đại. Nho giáo do Khổng Tử sáng lập vào thế kỷ VI (TCN) trên cơ sở nền tảng tư tưởng của Chu Công. Được hình thành từ rất sớm, nhưng phải đến thời vua Hán Vũ Đế (140 - 86 TCN), Nho giáo mới trở thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội phong kiến Trung Quốc. Suốt một hành trình dài 500 năm, Nho giáo đã không ngừng hoàn thiện, phát triển. Giá trị tinh tuý của học thuyết được đúc kết lại trong các bộ sách: Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử) và Ngũ Kinh (Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Thư, Kinh Xuân Thu). Ra đời trong bối cảnh xã hội loạn lạc cuối thời Xuân Thu, cho nên nội dung cốt lõi của Nho giáo tập trung chủ yếu vào cách thức tổ chức, ổn định trật tự xã hội. Nho giáo hướng đến xây dựng mẫu người lý tưởng gọi là Quân tử. Bậc Quân tử, trước hết phải là người biết "tự đào tạo", nghĩa là biết "tu thân", sau đó “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Khổng Tử lấy thuyết “chính danh”, “tam cương”, “ngũ thường” làm kim chỉ nam cho con người trong mọi hành động, sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. “Tam cương” gồm 3 mối quan hệ rường cột: vua – tôi; cha - con; vợ - chồng; “Ngũ thường” tức năm đạo lý mà người ta cần phải gìn giữ gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Theo Nho giáo, một xã hội mà con người tuân thủ đầy đủ các quy tắc trên thì xã hội sẽ không bị rối loạn.

Nho giáo cũng là một trong những học thuyết có sức sống mạnh mẽ, sự lan toả và tầm ảnh hưởng rộng lớn không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở khắp vùng Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Nho giáo du nhập vào Việt Nam vào khoảng đầu công nguyên, trong thời kỳ Bắc thuộc. Nho giáo được du nhập vào Việt Nam với vai trò là công cụ của chính sách cai trị, đồng hóa văn hóa của người phương Bắc, vì vậy, ban đầu Nho giáo chủ yếu thâm nhập vào tầng lớp trên, tầng lớp cai trị. Dầu dần, theo nhiều phương cách khác nhau, Nho giáo đã hòa quyện với những học thuyết, tôn giáo, tín ngưỡng khác trong cơ tầng văn hóa bản địa.

Đến khoảng thế kỷ X-XI, trên đất nước Việt đã chính thức hình thành một hệ tư tưởng “tam giáo đồng nguyên” (Phật, Đạo, Nho) nhưng Nho giáo ở vị trí ẩn tàng đằng sau. Trong bối cảnh lịch sử thế kỷ X-XI, đặc biệt sau sự kiện trọng đại: vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La, đổi tên Đại La thành Thăng Long (nghĩa là rồng bay lên), thì yêu cầu bức thiết đặt ra lúc bấy giờ là phải củng cố, xây dựng, phát triển nhà nước quân chủ tập quyền độc lập. Những vị vua triều Lý đã vô cùng sáng suốt nhận thức được tình hình và ngay lập tức thấy rõ việc cần thiết phải có một bệ đỡ tư tưởng vững chắc cho bộ máy chính quyền, một đường hướng rõ ràng để ổn định xã hội. Các vua nhà Lý bắt đầu chú trọng tới Nho giáo. Sự kiện lịch sử quan trọng được sử thần Ngô Sĩ Liên ghi lại trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: “Năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) đời Lý Thánh Tông, mùa thu, tháng tám dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế” đã thể hiện rõ điều đó. Bên cạnh đó, nhà Lý bắt đầu chăm lo mở mang học tập và thi cử để đào tạo nhân tài và tuyển lựa quan lại có năng lực cho bộ máy hành chính. Tháng 4 mùa hạ năm Bính Thìn niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng thứ nhất (1076) vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, tuyển trong các văn thần lấy những người có văn học bổ vào đó. Sự ra đời của Văn Miếu, Quốc Tử Giám dưới triều Lý đã đặt nền móng cơ bản cho chế độ giáo dục khoa cử Nho học sau này. Từ đây Văn Miếu - Quốc Tử Giám dần trở thành trung tâm hội tụ tinh hoa của Nho giáo - Nho học Việt./.


QUAN TẾ TỬU, TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM

Được thành lập từ thế kỷ XI, Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long đóng vai trò là cơ quan quản lý giáo dục của quốc gia, là trường Quốc học cấp cao nhất của nhà nước quân chủ, nơi đào tạo ra hàng ngàn Nho sĩ, trí thức và quan lại cao cấp đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước dưới thời quân chủ. Tế tửu, Tư nghiệp - Các vị quan đứng đầu, quản lý Quốc Tử Giám là những “người tài giỏi, có đức, thông hiểu kinh sách… phụng mệnh (nhà Vua) trông coi nhà Văn Miếu, rèn tập sĩ tử, phải chiếu theo chỉ truyền, hằng tháng theo đúng kỳ cho (học trò trường Giám) tập làm văn, để gây dựng nhân tài, giúp việc thực dụng cho nước”. 

 

Nền cũ của Trường Giám (sau khi điện Khải Thánh bị phá hủy

 

Mặc dù được khởi lập và hoạt động từ năm 1076, nhưng phải đến thời Trần (1225-1400), Quốc Tử Giám Thăng Long mới được nhà nước chú trọng phát triển cả về quy mô và cơ cấu tổ chức. Để việc dạy và học tại Quốc Tử Giám được quy củ, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 5 (1236) Vua Trần Thái Tông đã chọn người quản lý Quốc Tử Giám với chức vụ là Đề điệu. Tuy nhiên, phải đến năm Nhâm Thân, niên hiệu Thiệu Long thứ 15 (1272), Vua Trần Thái Tông mới đặt học quan chính thức cho trường Quốc Tử Giám. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Mùa đông tháng 10. Chọn người tài giỏi, có đức, thông hiểu kinh sách bổ làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Như vậy, Tư nghiệp thời Trần là học quan chính thức của Quốc Tử Giám.

Bộ máy quản lý việc dạy và học ở Quốc Tử Giám thời Trần sau đó hầu như không thay đổi. Sang thời Lê, cùng với sự phát triển của Quốc Tử Giám, hệ thống quan chức của Quốc Tử Giám ngày càng được hoàn thiện. Năm Giáp Dần niên hiệu Thiệu Bình thứ 1 (1434), Lê Thái Tông đặt chức quan Tế tửu đứng đầu Quốc Tử Giám. Chức quan Tư nghiệp đứng thứ 2 sau Tế tửu. Ngoài ra, học quan của Quốc Tử Giám còn có Giáo thụ, Trợ giáo, Ngũ kinh Bác sĩ....

 

 Nghiên đá của Quốc Tử Giám xưa đặt tại sân điện Khải Thánh

 

Chức Tế tửu ở Trung Quốc xuất hiện từ thời nhà Hán. Theo sách Từ nguyên của Trung Quốc, Tế tửu vốn là danh hiệu để chỉ người lớn tuổi nhất, có địa vị cao nhất trong buổi tiệc được chọn làm người dâng rượu tế đất trước khi uống. Về sau, lấy đó đặt chức quan. Tế tửu Quốc Tử Giám ở Việt Nam là chức quan đứng đầu trường Quốc Tử Giám. Theo Quan chế thời Hồng Đức, Tế tửu thuộc hàm Tòng tứ phẩm. Chức trách của Tế tửu được Phan Huy Chú cho biết trong Lịch triều Hiến chương loại chí là: “phụng mệnh trông coi nhà Văn Miếu, rèn tập sĩ tử, phải chiếu theo chỉ truyền, hằng tháng theo đúng kỳ cho (học trò trường Giám) tập làm văn, để gây dựng nhân tài, giúp việc thực dụng cho nước”.  Như vậy, Tế tửu ngoài chức trách là học quan của Quốc Tử Giám còn làm nhiệm vụ trông coi Văn Miếu, thực hiện việc cúng tế xuân, thu nhị kỳ theo quy định tế lễ tại Văn Miếu. Chức trách Tế tửu thời Lê Trung hưng không thay đổi nhiều, nhưng từ năm Bảo Thái thứ 2 (1721), Lê Dụ Tông yêu cầu Tế tửu cùng tham gia giảng dạy cho học trò ở tại Quốc Tử Giám, để khuyến khích sĩ tử, nâng cao chất lượng giáo dục.

Chức năng của Quốc Tử Giám là nơi đào tạo quan lại cho nhà nước, vì thế, Tế tửu với vai trò là người đứng đầu Quốc Tử Giám ngoài việc tổ chức dạy và học, còn phải tổ chức khảo hạch (kiểm tra) sự chuyên cần, tiến bộ của Giám sinh, chấm bài và báo cáo sang Bộ Lại để làm căn cứ bổ tuyển nhân tài theo quy định.

Quốc Tử Giám dưới thời Lê còn là cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo của nhà nước, nên khi triều đình có chủ trương thay đổi quy chế giáo dục, thi cử, thì quan Tể tửu phải thực hiện thay đổi chương trình dạy và học ở tại Quốc Tử Giám, đồng thời hướng dẫn cho các trường học trong cả nước, cho các học quan ở các địa phương tuân theo.

Chức vụ Tư nghiệp ở Trung Quốc được đặt từ thời nhà Tùy năm Đại Nghiệp thứ 3 (603) làm nhiệm vụ nắm việc giáo pháp, chính lệnh ở Quốc Tử Giám. Ở Việt Nam, Tư nghiệp Quốc Tử Giám lúc đầu (thời Trần) là chức học quan đứng đầu Quốc Tử Giám, phụ trách, quản lý việc giáo dục tại trường. Sang thời Lê sơ, là chức quan thứ 2, sau Tế tửu, làm phó cho Tế tửu, giúp Tế tửu trong việc rèn tập sĩ tử. Quan chế thời Lê xếp Tư nghiệp hàm Tòng ngũ phẩm. Từ năm Bảo Thái thứ 2 (1721), Tư nghiệp cùng với Tế tửu tham gia giảng dạy tại trường.

Để đảm nhiệm được trọng trách trên, ngay từ đầu, khi tuyển chọn nhân sự cho Quốc Tử Giám, triều đình thường chọn những bậc tài năng, đạo cao đức trọng. Đợt tuyển chọn Tư nghiệp đầu tiên của nhà nước dưới thời Trần, Tư nghiệp đã là người phải có tài, có đức và thông hiểu kinh sách. Dưới thời Trần, Chu Văn An (1292-1370), danh nho nổi tiếng học vấn uyên thâm, đạo đức trong sáng được Vua Trần Minh Tông mời ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, đồng thời dạy học cho Hoàng Thái tử.

Thời Lê sơ, Tế tửu, Tư nghiệp đều là những bậc đại khoa, nổi tiếng về tài năng và đức độ. Có thể kể đến những bậc hiền tài làm Tế tửu, Tư nghiệp như Trạng nguyên Nguyễn Trực người Quốc Oai, Hà Nội; Bảng nhãn Nguyễn Như Đổ người Thanh Trì, Hà Nội, hay Trạng nguyên Lương Thế Vinh người Nam Định, Tiến sĩ Ngô Sĩ Liên người ở Hoài Đức, Hà Nội; Tiến sĩ Thân Nhân Trung người Bắc Giang, ... Sau này, từ thời Lê Trung hưng, đặc biệt là từ năm Quý Dậu, niên hiệu Chính Hòa 14 (1693) đời Lê Hy Tông, triều đình quy định, những người được giữ chức Tế tửu, Tư nghiệp phải là các nhà khoa bảng, đang giữ những trọng trách quan trọng của triều đình (Thượng thư, Thị lang) kiêm nhiệm. Thời kỳ này, do yêu cầu về canh tân giáo dục, phục hưng đất nước, nên việc tuyển chọn học quan của Quốc Tử Giám rất được chú trọng. Các vị quan đại thần có uy tín, học vấn uyên bác như Hộ bộ Thượng thư Phùng Khắc Khoan; Tham tụng, Thiếu bảo Kiều Quận công Nguyễn Công Thái, Bồi tụng, Công bộ Thương thư Trương Công Giai, Bồi tụng, Lễ bộ Thượng thư Nguyễn Bá Lân, Lễ bộ Thượng thư Nguyễn Nghi; Bồi tụng, Hình bộ Tả thị lang Vũ Miên, Tham tụng, Binh bộ thượng thư Nhữ Đình Toản; Tham tụng, Công bộ Thượng thư Nguyễn Nghiễm, … được triều đình tin tưởng, bổ nhiệm giữ trọng trách Tế tửu, Tư nghiệp. Đội ngũ học quan này đã góp phần không nhỏ vào việc đào tạo nên hàng loạt danh nho, danh thần cho đất nước như: Vũ Miên, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Hoản, Nguyễn Công Thái, Trần Danh Lâm, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Nhậm, Ngô Thời Sĩ, Bùi Huy Bích, Phan Huy Ích, ….

Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám không chỉ là nhà quản lý về giáo dục, mà còn là những nhà giáo mẫu mực, đức trọng tài cao, là những trụ cột quốc gia giúp triều đình trong việc “trị quốc, bình thiên hạ”, là những cây đại thụ trong nền văn hóa, nước nhà. Các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám luôn xứng đáng là tấm gương về trí tuệ, tài năng, tinh thần rèn luyện, cống hiến cho sự nghiệp kiến quốc và trồng người. Họ sẽ mãi là tấm gương để các thế hệ kính trọng, noi theo.

ThS.NCS Nguyễn Văn Tú

Phó Giám đốc Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám


CÁC VỊ TẾ TỬU, TƯ NGHIỆP QUỐC TỬ GIÁM THĂNG LONG TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, GIÁO DỤC ĐẤT NƯỚC

 

Trong hơn 700 năm hoạt động từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XVIII, Quốc Tử Giám Thăng Long đã đào tạo, bảo cử ra một đội ngũ quan lại, trí thức Nho học đông đảo có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của Đất nước và Dân tộc. Các vị quan đứng đầu Quốc Tử Giám (Tế tửu, Tư nghiệp) đều là các bậc sĩ phu, tài cao, đức trọng được lựa chọn từ hàng ngũ các bậc danh Nho, đại thần có uy tín.

 Theo thống kê sơ bộ từ tài liệu chính sử và sắc phong, văn bia tại một số địa phương khoa bảng thì trong số 101 vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám Thăng Long (từ thế kỷ XIV đến thế thế kỷ XVIII), ngoài 5 vị chưa xác định được thân thế, còn lại toàn bộ 96 người đều có học vị Tiến sĩ (lưu danh trong Đăng khoa lục), trong đó có nhiều người giật giải Đình nguyên (Trạng nguyên Nguyễn Trực, Trịnh Tuệ, Bảng nhãn Lê Quí Đôn…). Đặc biệt, đại đa số các vị Tế tửu, Tư nghiệp đều từng giữ hoặc đang kiêm nhiệm các chức vụ quan trọng trong triều đình như: Hàn lâm viện Thừa chỉ (vị đại phu thay vua soạn chiếu chỉ), Đô Ngự sử (vị quan có trách nhiệm can gián vua không làm việc sai trái), Nhập thị Kinh diên (quan giảng kinh sách cho vua trong Nội điện), Thượng thư (tương tự chức Bộ trưởng ngày nay), Tham tụng (vị quan đứng đầu phủ chúa Trịnh, chuyên coi việc chính sự triều trình, quyền lớn hơn Thượng thư),Tả-Hữu Thị lang (Thứ trưởng)…vv.

Là những người đứng đầu Trung tâm giáo dục lớn nhất đất nước, đồng thời lại đảm nhiệm những chức vụ trọng yếu trong triều đình, các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám giữ một vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển văn hóa, giáo dục của Dân tộc. Họ là những cố vấn giúp các bậc Đế vương sử dụng tinh hoa của Nho giáo (công cụ được người Hán sử dụng để “đồng hóa và nô dịch” người Việt về mặt tư tưởng trong suốt gần 1000 năm Bắc thuộc) để hoạch định chính sách đào tạo, phát triển, trọng dụng nhân tài của Đất nước, đồng thời cũng là những người trực tiếp giám sát và thực hiện các chính sách đó.

Từ thế kỷ XXI nhìn lại, hơn 500 năm đã trôi qua nhưng câu nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước lên và mạnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp. Thế cho nên các bậc Thánh đế, Minh vương không ai không lấy việc đào tạo nhân tài, bồi đắp nguyên khí làm việc cần kíp” (trích văn bia khoa thi 1442) của Tế tửu Thân Nhân Trung vẫn được coi là kim chỉ nam, là chiến lược giáo dục của Nhà nước Việt Nam. Những quan điểm về một nền giáo dục bình đẳng, toàn diện và một chương trình dạy - học, thi cử, trường qui nghiêm túc nhằm đào tạo ra những con người “danh xứng với thực”, vừa có đức vừa có tài,  biết cách xử lý, dung hợp giữa các yếu tố Tri thức - Đạo đức - Hành vi để trở thành người có trách nhiệm đối với gia đình và xã hội…của Trường Quốc Tử Giám xưa ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

 Nhiều du khách quốc tế đã ngạc nhiên thán phục khi nghe các thuyết minh viên tại Văn Miếu giới thiệu rằng: Từ thời Trần (thế kỷ XIII-XV), ngoài việc Tập ấm (tuyển thẳng) dành cho con em trong Hoàng tộc và quan lại cao cấp thì con em bình dân tuấn tú (có tài –đức) người Việt cũng được tuyển chọn vào học tại Quốc Tử Giám. Tính chất tiến bộ của chương trình đào tạo tại Trường Giám (qui định phân bổ Giám sinh 3 xá theo kết quả học tập và chế độ học bổng khác nhau; qui định Nho sinh mỗi năm phải làm 4 bài Đại tập, mỗi tháng một bài Tiểu tập. Ai trả đủ, đúng tất cả các bài thi thì được coi đã là tốt nghiệp chứ không căn cứ cố định vào thời gian 3 năm hay 7 năm…) khiến người ta liên tưởng tới qui định cấp học bổng theo học lực và cấp bằng đại học khi có đủ số tín chỉ môn học của nền giáo dục thời hiện đại.

Lịch sử cũng minh chứng, dưới sự điều hành của các vị Tế tửu, Tư nghiệp, Trường Quốc Tử Giám Thăng Long đã ngày càng phát triển và trở thành hình mẫu cho hệ thống giáo dục Nho học trong cả nước. Sau hơn 7 thế kỷ, tính từ điểm khai hỏa thành lập Quốc Tử Giám (1076), một hệ thống dày đặc các trường, lớp đã được thiết lập từ trung ương đến địa phương, trải rộng từ Kinh thành Thăng Long đến khắp các phủ, huyện, làng quê; Kết quả đã đào tạo ra hàng nghìn các bậc đại khoa, hiền tài không chỉ đáp ứng nhu cầu vận hành của Nhà nước quân chủ Đại Việt mà còn có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, giáo dục, văn học – nghệ thuật, sử học, địa lý, toán học…vv.

Trên cương vị sứ thần, các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám từng đi sứ nhà Minh, nhà Thanh (Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Ngô Sĩ Liên …) bằng tài năng và tri thức của mình đã góp phần tạo dựng cho nước nhà một mối quan hệ bang giao mềm dẻo trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền đất nước. Tế tửu Phùng Khắc Khoan trong chuyến đi công cán tại Trung Quốc còn kín đáo mang về nước hạt Ngọc mễ (giống ngô) để phổ biến cho nhân dân trồng trọt.

Các sử gia: Ngô Sĩ Liên, Lê Tung, Lê Quí Đôn … đã cống hiến cho nền sử học dân tộc những bộ quốc sử quí báu (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử, Quốc sử tục biên…) cùng nhiều tư liệu quí (văn đình đối, văn bia Tiến sĩ, bi ký tại các đền, chùa, nhà học …) ghi chép lại nhiều sự kiện lịch sử trọng đại diễn ra tại kinh đô và các địa phương. Nhà toán học Lương Thế Vinh với tác phẩm Đại Thành toán pháp và các qui tắc tính chu vi, diện tích các hình khối… đã đưa ngành toán học Việt Nam ở thế kỷ XV bước sang một giai đoạn mới. Thiên Nam dư hạ tập (do Tế tửu Thân Nhân Trung viết chung với Đỗ Nhuận) nói về các qui định, luật lệ, sáng tác văn học dưới thời Lê Thánh Tông, cùng các áng thơ, văn thời Lý – Trần và tác phẩm của các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám (thành viên Hội Tao đàn) hay tác phẩm của nhà Bách khoa toàn thư Lê Quí Đôn đã làm giàu có, phong phú thêm kho tàng văn học, nghệ thuật và góp phần nâng cao nền học vấn nước nhà...vv.

 Bởi vậy, đội ngũ các vị Tế tửu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám Thăng Long không chỉ là các “yếu nhân” giữ vận mệnh của Trường Quốc Tử Giám trong suốt mấy trăm năm lịch sử dưới thời Lý, Trần, Lê… mà còn là những người đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển chung của nền văn hóa, giáo dục Đất nước./.

                                                                                                                                                                                                                       Ths.Đỗ Thị Tám

Phó Giám đốc Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám


Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới đầu tiên tại Việt Nam được UNESCO công nhận. Đây là những bản khắc gỗ dùng để in sách chữ Hán, chữ Nôm với nhiều loại hình khác nhau như sách lịch sử, địa chí, văn chương..., đặc biệt là phản ánh về lịch sử triều Nguyễn, cũng như lịch sử Việt Nam. Mộc bản không chỉ có giá trị về thông tin, văn hóa, lịch sử mà còn mang giá trị nghệ thuật khắc gỗ thủ công độc đáo của cha ông ta.

Châu bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thứ hai của triều Nguyễn được công nhận là Di sản tư liệu thế giới. Đây là các văn bản hành chính các cơ quan chính quyền từ trung ương đến địa phương soạn thảo và thông qua hoàng đế triều Nguyễn “ngự lãm”, “ngự phê” bằng mực son. Châu bản phản ánh các quan điểm, chính sách đối nội, đối ngoại của triều Nguyễn trên tất cả các lĩnh vực của xã hội bấy giờ.

Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là các tác phẩm thơ văn được chạm khắc tinh xảo trên các cấu kiện gỗ của kiến trúc cung đình. Các tác phẩm tập trung ở nhiều đề tài khác nhau, thể hiện tinh thần dân tộc và những truyền thống tốt đẹp, niềm tự hào về đất nước, con người... Các tác phẩm được khắc nổi trên các ô, hộc, các ván sơn son, thếp vàng có giá trị điêu khắc và văn hóa cao.


Văn Miếu được lập dưới thời Lý Thánh Tông, năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối (bốn học trò xuất sắc của Khổng Tử là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử), và Thất thập nhị hiền (72 nhà Nho tiêu biểu được tôn lên bậc Hiền triết), đồng thời là nơi Hoàng Thái tử Lý Càn Đức tới học. Quốc Tử Giám được lập dưới thời Lý Nhân Tông, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 (1076) là nơi để quan viên văn chức biết chữ và con em Hoàng gia, Đại thần ở Kinh đô đến học. Khi mới thành lập, quy mô của Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn khiêm tốn nhưng theo đà phát triển của vị thế Nho giáo trong xã hội, Văn Miếu – Quốc Tử Giám dần được quan tâm, tu sửa mở rộng hơn. Đến thời Trần, dù Phật giáo vẫn còn phát triển mạnh, dù rất bộn bề bởi các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, nhưng các vua Trần vẫn quan tâm đến Văn Miếu - Quốc Tử Giám và việc giáo dục Nho học. Năm 1236, triều đình lấy Phạm Ứng Thần giữ chức Thượng thư kiêm Đề điệu Quốc Tử viện để trông nom công việc học tập tại Quốc Tử viện. Triều đình cho trùng tu Quốc Tử viện vào năm 1243, xuống chiếu tô tượng Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử vào năm 1253 để thờ và cho vời nho sĩ trong nước đến Quốc Tử viện giảng Tứ thư, Lục kinh. Việc lập Quốc Tử viện (Giám (trường) được đổi thành viện) làm nơi học tập cho quan viên biết chữ ở các địa phương và con em nhà vua, quan đại thần ở kinh đô đánh dấu sự trưởng thành cũng như vai trò to lớn của Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong thời kỳ này. Văn Miếu thời Trần đã được tu sửa khang trang đẹp đẽ.

Năm 1272, nhà vua xuống chiếu cho tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách (Tứ thư, Ngũ kinh) giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám (người đứng đầu trường Quốc Tử Giám). Dưới thời vua Trần Minh Tông (1314-1329), thầy giáo Chu Văn An (người làng Thịnh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) được triều đình cử giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Ngoài Tư nghiệp ra, tại Quốc Tử Giám còn có học quan khác là Trợ giáo như Trợ giáo Đoàn Xuân Lôi…

Dưới thời Trần, Văn Miếu vẫn là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối và Thất thập nhị hiền. Sau này, triều đình cho phối thờ thêm Tư nghiệp Chu Văn An (1370), Trương Hán Siêu (1371) và Đỗ Tử Bình (1380). Đây là trường hợp đặc biệt, thể hiện rõ tư tưởng tự chủ, tự cường của Quốc gia Đại Việt bấy giờ, đồng thời cũng là nét rất riêng của Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Thời Hồ, Văn Miếu – Quốc Tử Giám không có nhiều thay đổi.


Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi (1428), vương triều Lê chính thức được kiến lập và bắt đầu công cuộc ổn định, xây dựng, phát triển đất nước. Văn Miếu - Quốc Tử Giám thời Lê sơ được quan tâm đặc biệt. Đây cũng là thời kỳ Văn Miếu - Quốc Tử Giám và nền giáo dục khoa cử theo Nho giáo phát triển rực rỡ. Ngay trong những năm đầu lên ngôi, vua Lê Thái Tổ cho mở nhà học, lấy cỗ Thái lao (cỗ tam sinh: Trâu, bò, dê) để tế Khổng Tử. Vua Lê Thái Tổ đã cho chọn con cháu các quan và nhà thường dân tuấn tú vào Quốc Tử Giám làm Giám sinh và xuân thu nhị kỳ đích thân nhà vua làm chủ tế tại Văn Miếu.

Dưới thời vua Lê Thái Tông (1433-1442) và Lê Thánh Tông (1460-1497), Văn Miếu – Quốc Tử Giám được quan tâm đặc biệt. Vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484), triều đình cho đại trùng tu Văn Miếu - Quốc Tử Giám, khang trang to đẹp:“Đằng trước nhà Thái học dựng Văn Miếu. Khu vũ của Văn Miếu có: điện Đại Thành để thờ Tiên Thánh, Đông vũ và Tây vũ chia ra thờ các Tiên hiền, Tiên nho; điện Canh Phục để làm nơi túc yết. Một kho để chứa đồ tế khí và một phòng để làm nhà bếp; đằng sau nhà Thái học, dựng cửa Thái học, nhà Minh Luân. Giảng đường phía đông và giảng đường phía tây thì để làm chỗ giảng dạy các học sinh. Lại đặt thêm kho Bí thư để chứa ván gỗ đã khắc thành sách; bên đông, bên tây nhà Thái học làm nhà cho học sinh trong ba xá, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy 25 gian để làm chỗ nghỉ ngơi của học sinh”(Đại Việt sử ký toàn thư).

Cũng trong năm 1484, sau khi hoàn thành việc trùng tu, Vua Lê Thánh Tông cho dựng 10 bia đá ghi về các khoa thi Tiến sĩ được tổ chức từ năm 1442 đến 1484 cũng như tên họ, quê quán những người đỗ. Đây là sự kiện đặc biệt, khởi đầu cho lệ dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu. Nhà Vua chọn các nhà Nho tài năng soạn văn bia nhằm khích lệ, đề cao đạo học và những người hiền tài. Trên tấm bia dựng cho khoa thi năm 1442, khoa thi đầu tiên được dựng bia, Thân Nhân Trung đã viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí suy thì thế nước kém và suy vì thế không bậc thánh đế minh vương nào không chăm lo gây dựng nhân tài, đắp bồi nguyên khí”. Có thể coi đây là phương châm, tuyên ngôn về giáo dục của các triều đại phong kiến Việt Nam, cũng là phương châm giáo dục của mọi thời đại.

Dưới thời Lê, Quốc Tử Giám được nâng cấp thực sự trở thành một Trung tâm giáo dục Nho học cao cấp của nhà nước, có bộ máy quản lý hoàn chỉnh và cách thức tổ chức học tập bài bản. Quốc Tử Giám thời Lê còn được gọi là Thái học viện. Quy chế lựa chọn Giám sinh chặt chẽ, rõ ràng: Người thi Hội trúng ba kỳ thì sung vào Thượng xá sinh, trúng hai kỳ sung vào Trung xá sinh, trúng một kỳ sung vào hạng Hạ xá sinh. Mỗi xá 100 người, việc cất nhắc bổ dụng căn cứ theo ba hạng đó. Quy chế tuyển chọn vào Thái Học viện này được áp dụng cho cả thời gian về sau. Đặc biệt, triều đình cho phép tuyển lựa cả con em dân thường có tài, có triển vọng vào học để làm nguồn bổ sung cho bộ máy quản lý đất nước. Ngoài những người đủ tiêu chuẩn được chọn vào học ở Quốc Tử Giám, hàng năm đều có một số lượng lớn các Hương cống từ khắp các địa phương trong nước về Kinh đô theo học. Những người này chỉ cần làm thủ tục ghi tên là được đến nghe giảng bài, tập văn như các Giám sinh. Học trò Quốc Tử Giám mà có lúc đông đến hàng 6000 người.

Thời Lê sơ, đứng đầu Quốc Tử Giám là Tế Tửu, sau đến Tư nghiệp. Tế tửu và Tư nghiệp thường do các danh nho, đại thần tài năng, đạo đức trong sáng đảm nhiệm. Trực giảng, Bác sỹ, Giáo thụ, Trợ giáo là các chức quan giảng dạy. Sách học trong trường cơ bản là Tứ thư và Ngũ kinh, những sách kinh điển của Nho gia. Nội dung học tập ở Quốc Tử Giám chủ yếu dựa theo yêu cầu tuyển chọn của các kỳ thi Hội. Giám sinh tập trung vào việc luyện tập lối văn chương theo những hình thức, quy cách cố định, chuyên dùng cho việc thi cử. Ngoài ra, Giám sinh cũng được học thêm các thể loại văn khác như: Câu đối, văn tế... dùng trong đời sống hàng ngày để biểu lộ cảm nghĩ, mừng vui hay phúng viếng.

Quốc Tử Giám thời Lê sơ còn có nhiệm vụ bảo cử các Giám sinh với triều đình để bổ dụng làm quan. Hàng năm, vào 4 tháng trọng (tháng 2,5,8,11) quan Quốc Tử Giám khảo hạch Giám sinh, nếu trúng thì đề cử để Bộ Lại tuyển dụng khi cần. Quốc Tử Giám còn thực hiện những việc liên quan đến việc khảo đính, biên soạn sách vở, đặc biệt là in ấn các sách kinh điển Nho giáo để cung cấp cho các nho sinh trong cả nước.

Năm 1510, triều đình cho trùng tu Văn Miếu - Quốc Tử Giám với quy mô lớn. Kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám bao gồm: Điện Đại Thành và Đông vu, Tây vu là nơi thờ các bậc Tiên thánh, Tiên hiền của đạo Nho, điện Canh Phục là nơi để đồ tế lễ, và nơi nhà vua thay y phục trước khi tiến hành lễ tế Khổng Tử, khu bia Tiến sĩ; nhà Minh Luân; hai dãy giảng đường bên đông và bên tây, phòng học của sinh viên ba xá; Kho chứa ván khắc in sách của trường Giám, nơi cung cấp sách học cho học sinh trường Giám và các trường ở phủ, lộ.

Năm 1527, nhà Mạc lên thay nhà Lê nhưng vẫn theo nếp cũ về giáo dục khoa cử Nho học của triều Lê sơ. Nhà Mạc cho dựng bia Tiến sĩ khoa thi năm 1529. Đến năm Đại Chính thứ 7 (1536), Mạc Đăng Doanh sai Đông quân Tả đô đốc Khiêm quận công Mạc Đình Khoa trùng tu Quốc Tử Giám. Đây là lần trùng tu Văn Miếu-Quốc Tử Giám duy nhất của nhà Mạc nhưng sử sách không ghi rõ những công việc cụ thể trong đợt trùng tu này. Mùa xuân năm sau (1537), Mạc Đăng Doanh đến Văn Miếu làm lễ tế Tiên thánh, Tiên sư và thăm Quốc Tử Giám. Đến năm 1586, Lại bộ Thượng thư Nghĩa sơn hầu Trần Văn Tuyên dâng biểu xin tu sửa Quốc Tử Giám và 2 giải vũ ở điện Đại Thành, nghi môn, tiền nghi môn ở các giảng đường nhưng Mạc Mậu Hợp không đồng ý.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám dưới thời Lê sơ - Mạc luôn được nhà nước quan tâm và coi trọng, và phát triển về mọi mặt./.


Thời Lê Trung hưng, Văn Miếu - Quốc Tử Giám tiếp tục được nhà nước quan tâm, tu sửa, quy mô ngày càng hoàn thiện. Năm 1645, hiện trạng của Văn Miếu - Quốc Tử Giám được miêu tả qua Lê triều chiếu lệnh thiện chính như sau: “Điện Đại Thành ở Quốc Tử Giám (nhà Đại học của quốc gia) có tả hữu ở phía đông, phía tây và 4 nghi môn. Nhà Minh Luân có 2 giảng đường phía đông và phía tây, và cửa nghi môn Sùng Nho 4 mặt xây tường”. Hàng năm việc tu bổ, xây dựng thêm, lát gạch và dọn cỏ, theo lệ cũ do lính ở các huyện, xã và các phường ở hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức

Đến năm 1662, các công trình kiến trúc của Quốc Tử Giám nhiều chỗ bị sụt lở, dột nát. Lễ bộ Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ, Thiếu bảo Phạm Công Trứ được giao nhiệm vụ trông coi việc sửa sang Quốc Tử Giám. Phạm Công Trứ cho xây dựng Phán Thuỷ Đường trên gò Kim Châu ở hồ Văn và làm 10 bài thơ vịnh để ghi lại cảnh đẹp. Cứ đến mùng Một và ngày rằm hàng tháng, học trò lại tập trung về Quốc Tử Giám học tập.

Mùa xuân năm Canh Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760), triều đình cho sửa lại nhà Đại Bái và làm hai cột đá hình bút lông dựng phía trước. Đến tháng 9 năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762), chúa Trịnh Doanh cho tu sửa Quốc Tử Giám. Không lâu sau lần sửa chữa này, diện mạo của Văn Miếu - Quốc Tử Giám được Lê Quý Đôn mô tả lại trong sách Kiến văn tiểu lục khá cụ thể: “Cửa Đại Thành 3 gian 2 chái, lợp bằng ngói đồng. Đông vu và Tây vu mỗi dãy đều 7 gian. Đằng sau có cửa nhỏ 1 gian, điện Canh phục 1 gian 2 chái. Nhà bếp 2 gian. Kho tế khí 3 gian 2 chái, cửa Thái Học 3 gian có tường ngang lợp bằng ngói đồng. Nhà bia phía đông và phía tây mỗi dãy đều 12 gian. Kho để ván khắc in sách 4 gian. Ngoại nghi môn 1 gian xung quanh đắp tường. Cửa Hành mã ngoài tường ngang 3 gian. Nhà Minh Luân 3 gian 2 chái. Cửa nhỏ bên tả và bên hữu đều 1 gian, có tường ngang. Nhà giảng dạy ở phía đông và phía tây 2 dãy, mỗi dãy đều 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá ở phía đông và phía tây đều 3 dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người

Năm 1771, hai bia Hạ Mã được dựng phía trước Văn Miếu - Quốc Tử Giám với hàm ý dù quan lại hay dân thường khi đi qua cửa Văn Miếu đều phải xuống ngựa đi bộ qua cửa Văn Miếu nhằm thể hiện sự tôn kính đối với các bậc Tiên thánh, Tiên hiền. Cũng trong năm này, Quan coi Quốc Tử Giám đã cho giải toả nhà ở của dân xung quanh hồ Văn, mở rộng, trồng cây, lát đường. Văn Miếu - Quốc Tử Giám trở lại trang nghiêm như xưa. Năm 1785, Bùi Huy Bích lại cho trùng tu nhà Thái Học.

Dưới thời Lê Trung hưng, đứng đầu Văn Miếu - Quốc Tử Giám vẫn là Tế tửu. Ngoài Tế tửu và Tư nghiệp, học quan còn có Giáo thụ, Trực giảng, Học chính. Năm 1693, nhà vua cho phép các quan Quốc Tử Giám được ở ngay tại trường để tiện cho việc giảng dạy và quản lý Nho sinh. Từ năm 1721 đời Vua Lê Dụ Tông, Tế tửu và Tư nghiệp cũng tham gia giảng dạy. Ngoài ra, triều đình còn cử một vị quan đại thần chuyên lo công việc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám với chức vụ là Tri Quốc Tử Giám (Như Tri Quốc Tử Giám Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Công Thái). Quy chế giảng dạy và học tập của Quốc Tử Giám thời kỳ này về cơ bản vẫn giống như thời Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, ngoài nhiệm vụ dạy, học và bảo cử, Quốc Tử Giám còn thực hiện những việc liên quan đến việc khảo đính, biên soạn sách vở, đặc biệt là in ấn các sách kinh điển của Nho giáo để cung cấp cho các Nho sinh cả trong và ngoài Giám.

Dưới thời Lê Trung hưng, Văn Miếu - Quốc Tử Giám được quan tâm tu bổ nhiều lần, điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với Nho giáo và với nền giáo dục của nước nhà./.



CÁC TIỆN ÍCH


THAM QUAN VĂN MIẾU

Tư vấn và lộ trình để lên kế hoạch tốt hơn cho chuyến thăm của bạn

Xem thêm

NỘI QUY THAM QUAN

Những vấn đề cần lưu ý khi tham quan

Xem thêm

FAQS

Những câu hỏi thường gặp

Xem thêm